BỘ TRƯỞNG Dương Quốc Chính

(7/1960 – 12/1962)

- Ông Dương Quốc Chính (tên gọi khác là Lê Hiến Mai), sinh ngày 23/11/1918 tại xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì, Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ năm 1939. Năm 1940, ông là Thư ký Ban chấp hành Đoàn Thanh niên phản đế tỉnh Sơn Tây. Từ năm 1941 đến năm 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam và đày đi tù ở nhiều nơi.

- Tháng 8/1944, ông vượt ngục, tham gia Cứu quốc quân, lấy bí danh Lê Hiến Mai, giữ chức Ủy viên phân khu ủy Phân khu Tuyên – Thái; Phái viên chính trị Giải phóng quân phụ trách Mặt trận Sầm Nưa, Xiêng Khoảng (Lào); Chính trị viên, Bí thư Trung đoàn ủy. Tháng 3/1946, ông làm Chính ủy, kiêm Tham mưu trưởng, Bí thư quân khu ủy Chiến khu 2, kiêm Chính ủy Trường bổ túc quân sự ủy viên hội.

- Từ tháng 2/1947 - 1949, ông lần lượt giữ các chức vụ Chính ủy Mặt trận Tây Tiến, Liên khu 1, Bộ Tư lệnh Nam Bộ, kiêm Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Năm 1948, ông được thụ phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong hàm đầu tiên. Năm 1953, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh, Bí thư quân khu ủy Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Sau Hiệp ước Genève, ông tập kết ra Bắc. Năm 1958, ông được bầu làm Chính ủy, Bí thư đảng ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh.

- Tháng 9/1960, Ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi và Điện lực.

- Tháng 01/1963, Ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp (01/1963 – 4/1965) và sau đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1971 – 1975); Bộ trưởng Bộ Thương binh Xã hội (1975 – 4/1982).

- Ông là Ủy viên BCH Trung ương Đảng khóa III, khóa IV; Đại biểu Quốc hội khóa III, V, VI và VII.

- Ông mất năm 1992, tại Hà Nội.

- Ông được Nhà nước vinh danh & trao tặng:

Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

 

 

 

 

 

THỨ TRƯỞNG - Bí thư Đảng đoàn Trần Quý Kiên

(7/1960 - 12/1962

- Ông Trần Quý Kiên, tên thật là Đinh Văn Nhạ, sinh năm 1911 tại làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông (nay là Thành phố Hà Nội). Ông tham gia cách mạng từ 1929, vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5/1930. Ông bị bắt khi đang treo cờ đỏ và diễn thuyết trước cửa trường Bách Nghệ Hà Nội và bị giam ở Hỏa Lò tháng 10/1930.

- Cuối năm 1935 hết hạn tù, ông liên lạc ngay với các ông Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, do đó được giao công tác ngay giữa năm 1936. Trung ương đảng và Xứ ủy chỉ thị phải khẩn trương thành lập Ban Tỉnh ủy Hải Phòng để thay Ban Tỉnh ủy cũ đã bị bắt, bị tù hết, ông được tăng cường về Hải Phòng. Tháng 4/1937, ông tham gia hội nghị thành lập Tỉnh ủy Hải Phòng gồm Nguyễn Văn Túc (Nguyễn Công Hòa), Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Văn Vượng, Tư Thành, Hoàng Văn Trành, ... do đồng chí Nguyễn Văn Túc làm Bí thư. Ban Tỉnh ủy mới vừa phát triển, củng cố tổ chức vừa phát động công nhân, lao động đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ làm đà cho cao trào Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939).

- Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư Thành ủy Hà Nội và tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1940, ông bị bắt và bị đưa đi đày tại Sơn La. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông vượt ngục, sau đó được giao làm Bí thư chiến khu Quang Trung (Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá, Sơn La, Lai Châu).

- Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông được giao giữ các chức vụ: Đại diện chính phủ tại Sơn La và Lai châu; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Yên (1948); tham gia Khu ủy viên Khu III (cuối năm 1948) phụ trách Hải Dương, Hưng Yên, sau đó phụ trách tỉnh Kiến An và tỉnh Thái Bình; Khu ủy viên Liên khu 3 (cuối năm 1949) phụ trách Ban căn cứ địa trung ương; Phó Văn phòng phủ Thủ tướng, kiêm Bí thư Đảng ủy Dân chính đảng Trung ương (Năm 1950).

- Ngày 16/4/1951 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Ban Tổ chức Trung ương (Nghị quyết của Ban Bí thư Khóa II, ngày 16/4/1951). Tháng 10/1958, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ Thủy lợi và sau đó là Bộ Thủy lợi và Điện lực.

-  Ông mất năm 1965 tại Hà Nội.

- Ông được Nhà nước vinh danh & trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Lao động hạng nhất (truy tặng năm 1965); tại quận Cầu Giấy, Hà nội có con đường mang tên Ông.            

 

 

THỨ TRƯỞNG Hà Kế Tấn

(9/1960 - 12/1962)

 

 

- Ông Hà Kế Tấn, sinh ngày 30/61912 tại làng Mông Phụ, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc xã Đường Lâm, Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Năm 1936, Ông về Hà Nội tìm việc làm và tham gia phong trào Đông Dương Đại hội tại Hà Nội. Tháng 6/1937 Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Ông được Trung ương Đảng cử làm Trưởng ban Công vận Xứ uỷ Bắc Kỳ, phụ trách hai tỉnh: Nam Định và Hà Nam. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hoà bình được lập lại ở miền Bắc, ông được Trung ương giao nhiệm vụ tổ chức Đại đoàn bảo vệ Trung ương và Hà Nội và trực tiếp làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ, tham gia Ủy ban Quân chính Hà Nội.

- Tháng 10/1955 Ông được bầu là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội (1955 – 1957). Năm 1958 ông được thăng quân hàm Đại tá.

- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960), ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng, bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Thủy lợi và Điện lực, kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng.

- Ngày 07/01/1963, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 147 NQ/TVQH, quyết định bổ nhiệm một số thành viên Hội đồng Chính phủ, Ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi (1963 – 1973), kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban trị thuỷ và khai thác sông Hồng.

- Tháng 6/1973 ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và được giao nhiệm vụ Bộ trưởng phụ trách Công trình thuỷ điện Sông Đà (đến tháng 5/1978).

- Ngày 01/4/1980, ông được Trung ương có quyết định thôi giữ chức Bộ trưởng phủ Thủ tướng để làm Bí thư Ban cán sự Đảng Toà án nhân dân Tối cao Việt Nam và trực tiếp đảm nhận chức Chánh án cho đến khi nghỉ hưu.

- Năm 1990 Ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Quyết định số 100-QĐ/TW ngày 03/2/1990). Tại Đại hội Hội Cựu chiến binh Thành phố Hà Nội (năm 1993), ông được bầu là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Thành phố.

- Ông mất năm 1997 tại Hà Nội.

 

 

 

 

 

THỨ TRƯỞNG Nguyễn Như Quỹ

(7/1960 - 12/1962)

 

(Thông tin đang được cập nhật)

 

 

THỨ TRƯỞNG Phan Mỹ

(7/1960 - 12/1962)

 

          

- Ông Phan Mỹ sinh năm 1914, tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

- Năm 1939, sau khi tốt nghiệp Cử nhân Luật, Ông dạy học ở các trường có tên tuổi ở Hà Nội như trường Gia Long, Thăng Long, Văn Lang và tham gia các phong trào yêu nước có xu hướng ủng hộ Việt Minh.            

 

- Sau Cách mạng Tháng 8, Ông tham gia chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lần lượt giữ các chức vụ: Thư ký Ủy ban Bảo vệ thành phố Hà Nội, Chánh án Tòa án Quân sự Hà Nội, Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng (Sắc lệnh số 209/SL ngày 16/11/1946). Từ năm 1947, Ông lên Việt Bắc cùng chính phủ kháng chiến và giữ các chức vụ Chánh văn phòng Chủ tịch Chính phủ (Sắc lệnh số 232/SL ngày 18/7/1947); Thứ trưởng Bộ Thủy lợi và Điện lực và sau đó là Thứ trưởng Bộ Thủy lợi (1960 – 1973); Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng (1973 – 1981).- Ông mất năm 1987 tại Hà Nội.

- Ông được Nhà nước vinh danh & trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

 

 

Nguồn: dangcongsan.vn; hanoi.gov.vn;

chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/thanhvienchinhphuquacacthoiky;

truyenthong.omard.gov.vn; quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham;

http://baosonla.org.vn/ditich.htm; http://www.qdnd.vn;


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article