BỘ TRƯỞNG Trần Đăng Khoa

(4/1958 – 7/1960)

 

- Ông Trần Đăng Khoa, sinh năm 1907 trong một gia đình nghèo ở ngoại ô Thành phố Huế (làng Thế Lại Thượng, huyện Hương Trà). Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội (1925 – 1928) ông tiếp tục học hàm thụ Trường Kỹ sư Eyrolles, Paris và thi đậu tham sự bậc trên (1928), năm 1932 ông thi đậu Kỹ sư công chính. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945 với chức vụ đầu tiên là Giám đốc Công chính Trung bộ (tháng 11 - 1945).

- Từ tháng 11/1945, Ông được bổ nhiệm giữ các chức vụ: Giám đốc Công chính Trung bộ (11/1945 – 03/1946); Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính (3/1946 - 9/1955); Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Kiến trúc (9/1955 - 4/1958); Bộ trưởng Bộ Thủy lợi (4/1958 - 7/1960); kiêm nhiệm Giám đốc Học viện Thủy lợi (1960 - 1976); kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi (…); Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (7/1960 - 7/1981); Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế – Kế họach và Ngân sách của Quốc hội (4/1981); Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 - 1988); Phó Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam (1958 - 1988); Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô (1980 - 1988).

- Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.

 

 

 


 

THỨ TRƯỞNG - Bí thư Đảng đoàn Trần Quý Kiên

(10/1958 – 7/1960)

- Ông Trần Quý Kiên, tên thật là Đinh Văn Nhạ, sinh năm 1911 tại làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông (nay là Thành phố Hà Nội). Ông tham gia cách mạng từ 1929, vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5/1930. Ông bị bắt khi đang treo cờ đỏ và diễn thuyết trước cửa trường Bách Nghệ Hà Nội và bị giam ở Hỏa Lò tháng 10/1930.

- Cuối năm 1935 hết hạn tù, ông liên lạc ngay với các ông Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, do đó được giao công tác ngay giữa năm 1936. Trung ương đảng và Xứ ủy chỉ thị phải khẩn trương thành lập Ban Tỉnh ủy Hải Phòng để thay Ban Tỉnh ủy cũ đã bị bắt, bị tù hết, ông được tăng cường về Hải Phòng. Tháng 4/1937, ông tham gia hội nghị thành lập Tỉnh ủy Hải Phòng gồm Nguyễn Văn Túc (Nguyễn Công Hòa), Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Văn Vượng, Tư Thành, Hoàng Văn Trành, ... do đồng chí Nguyễn Văn Túc làm Bí thư. Ban Tỉnh ủy mới vừa phát triển, củng cố tổ chức vừa phát động công nhân, lao động đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ làm đà cho cao trào Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939).

- Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư Thành ủy Hà Nội và tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1940, ông bị bắt và bị đưa đi đày tại Sơn La. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông vượt ngục, sau đó được giao làm Bí thư chiến khu Quang Trung (Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá, Sơn La, Lai Châu).

- Sau Cách mạng tháng Tám thành công, ông được giao giữ các chức vụ: Đại diện chính phủ tại Sơn La và Lai châu; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Yên (1948); tham gia Khu ủy viên Khu III (cuối năm 1948) phụ trách Hải Dương, Hưng Yên, sau đó phụ trách tỉnh Kiến An và tỉnh Thái Bình; Khu ủy viên Liên khu 3 (cuối năm 1949) phụ trách Ban căn cứ địa trung ương; Phó Văn phòng phủ Thủ tướng, kiêm Bí thư Đảng ủy Dân chính đảng Trung ương (Năm 1950).

- Ngày 16/4/1951 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Ban Tổ chức Trung ương (Nghị quyết của Ban Bí thư Khóa II, ngày 16/4/1951); Tháng 10/1958, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ Thủy lợi và sau đó là Bộ Thủy lợi và Điện lực.

-  Ông mất năm 1965 tại Hà Nội.

- Ông được Nhà nước vinh danh & trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Lao động hạng nhất (truy tặng năm 1965); tại quận Cầu Giấy, Hà nội có con đường mang tên Ông.


 

THỨ TRƯỞNG Nguyễn Văn Lộc (7/1958 - 7/1960)

 

- Ông Nguyễn Văn Lộc, tên gọi khác là Trương Đỗ Uông sinh ngày 14/3/1914 tại xã Tảo Dương Văn, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi. Năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 4/1946 ông được giao phụ trách phong trào của 3 tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn và Thái Nguyên… Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông được cử làm Phó Bí thư Khu ủy khu II, Phó Bí thư liên khu III (1948), Bí thư liên khu ủy III, Chủ tịch Mặt trận thống nhất Liên khu III (1954); Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông (1944 - 4/1945) và Bí thư Tỉnh ủy Sơn Tây.

- Tháng 7/1958, Ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Thủy lợi.

- Năm 1960, Ông được bầu vào Ban Chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam (Ủy viên dự khuyết) và sau đó được bổ nhiệm giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp (11/1967 – 4/1971); Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương (4/1971 - 3/1974); Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ (3/1974 - 1976).

- Ông mất năm 1979 tại Hà Nội.

- Ông được Nhà nước vinh danh & trao tặng: Huân chương sao vàng (truy tặng năm 2006); tại phường Mỗ Lao, quận Hà Đông, Hà nội có đường mang tên Ông.

 

Nguồn: dangcongsan.vn; hanoi.gov.vn;     

chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/thanhvienchinhphuquacacthoiky;     

truyenthong.omard.gov.vn; quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham;     

http://baosonla.org.vn/ditich.htm; http://www.qdnd.vn;     

 


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article