BỘ TRƯỞNG Trần Đăng Khoa

(9/1955 - 4/1958)

 

- Ông Trần Đăng Khoa, sinh năm 1907 trong một gia đình nghèo ở ngoại ô Thành phố Huế (làng Thế Lại Thượng, huyện Hương Trà). Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội (1925 – 1928) ông tiếp tục học hàm thụ Trường Kỹ sư Eyrolles, Paris và thi đậu tham sự bậc trên (1928), năm 1932 ông thi đậu Kỹ sư công chính. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945 với chức vụ đầu tiên là Giám đốc Công chính Trung bộ (tháng 11 - 1945).

 

- Từ tháng 11/1945, Ông được bổ nhiệm giữ các chức vụ: Giám đốc Công chính Trung bộ (11/1945 - 03/1946); Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính (3/1946 - 9/1955); Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Kiến trúc (9/1955 - 4/1958)

; Bộ trưởng Bộ Thủy lợi (4/1958 - 9/1960); kiêm nhiệm Giám đốc Học viện Thủy lợi (1960 - 1976); kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi (…); Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (7/1960 - 7/1981); Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế – Kế họach và Ngân sách của Quốc hội (4/1981); Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 - 1988); Phó Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam (1958 - 1988); Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô (1980 - 1988).

- Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.

 

 

 

 

           

THỨ TRƯỞNG Nguyễn Như Quỹ

 

(Thông tin đang được cập nhật)

 

 

 

THỨ TRƯỞNG Bùi Quang Tạo (9/1955 - 4/1958)

 

           

- Ông Bùi Quang Tạo (tên gọi khác là Bùi Nhật), sinh năm 1913 (chưa rõ năm mất) tại huyện 

Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Năm 1943 ông cùng với các đồng chí Bình Phương, Lý Bạch Luân, Ngô Minh Loan... về gây dựng phong trào ở vùng Linh thông (huyện Trấn yên, tỉnh Yên bái). Năm 1944 ông bị Thực dân Pháp bắt và giam tại Nhà tù Hòa bình.

- Tháng 10/1945 đến cuối năm 1945 ông được giao giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Hà đông kiêm Bí thư tỉnh ủy Sơn Tây (đến giữa năm 1946). Năm 1947 ông là Bí thư Khu X.

- Năm 1948 Khi Chính phủ sáp nhập khu XIV và khu X thành Liên khu X, ông được cử làm Bí thư Khu ủy, Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu Việt bắc. Trong Chiến dịch Biên giới năm 1950 ông là Đảng ủy viên Bộ chỉ huy, Phó chủ nhiệm Phòng cung cấp chiến dịch. Sau đó ông làm Phó Bí thư Khu ủy Việt Bắc

- Năm 1952 để chuẩn bị giải phóng khu Tây Bắc khỏi sự chiếm đóng của thực dân Pháp, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch quyết định bốn tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La tách khỏi Liên khu Việt Bắc thành lập Khu Tây Bắc và cử ông làm Bí thư Khu ủy, Chính ủy quân khu và Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến Tây Bắc. Ông trực tiếp làm Trưởng Ban Tổ chức và Tuyên Huấn.

- Tháng 3/1955 ông được bầu là Ủy viên chính thức BCH Trung ương Đảng khóa III và được giao giữ chức vụ Bí thư Đảng đoàn, Thứ trưởng Bộ Thủy lợi và Kiến trúc  (9/1955 – 4/1958).

- Tháng 9/1958, ông được bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Kiến trúc (9/1958 – 6/1973).

Tháng 6/1973, Ông được giao giữ chức Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (Nghị quyết số 354 NQ/TVQH ngày 14/6/1973) và sau đó là các chức vụ: Bí thư Thành ủy Hải Phòng (1979 – 1981); Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ (4/1982 – 1987).

- Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương các khóa II, III, IV, V; Đại biểu Quốc hội khóa III.

 

 

Nguồn: dangcongsan.vn; hanoi.gov.vn; haiphong.gov.vn; Thư viện Quốc gia - baochi.nlv.gov.vn;

chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/thanhvienchinhphuquacacthoiky;

moj.gov.vn; http://www.hoisuhoc.vn; truyenthong.omard.gov.vn;

molisa.gov.vn; quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham; most.gov.vn;

Nghị quyết số 166-HĐNN7 ngày 23/4/1982.

 


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article