Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng do đồng chí Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ, trình bày ngày 16 tháng 12 năm 1976, nêu phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1976-1982, đặt ra yêu cầu to lớn, như bản hiệu triệu toàn dân làm thủy lợi:

       Kinh nghiệm bao đời nay của nhân dân ta chứng tỏ thủy lợi bao giờ và ở đâu cũng là biện pháp hàng đầu để mở rộng diện tích, thâm canh tăng vụ, cải tạo đất. Là mũi nhọn quyết định thắng lợi của toàn bộ công cuộc phát triển sản xuất nông nghiệp. Khối lượng xây dựng các công trình thủy lợi trong 5 năm này của cả nước dự kiến sẽ gấp đôi tổng khối lượng đã thực hiện trong 20 năm qua ở các tỉnh phía Bắc. Khởi công sớm, hoàn thành nhanh và tốt các công trình thủy lợi, chúng ta sẽ tận dụng được đất đai sẵn có với hiệu quả cao, thu hút được nhiều lao động vào sản xuất, có thêm nhiều sản phẩm, trước hết là lương thực. Chúng ta phải có những biện pháp đặc biệt mạnh mẽ, nhanh chonhs phát triển mạnh lưới thủy lợi ở khắp các địa phương, trước hết ở các vùng trọng điểm lúa và cây công nghiệp quan trọng. Bộ Thủy lợi phải giúp các tỉnh lực lượng khảo sát, quy hoạch, thiết kế, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho việc động viên quần chúng làm thủy lợi. các ngành công nghiệp phải ưu tiên sản xuất các loại công cụ, phương tiện và vật liệu cần thiết cho công tác này. Chúng ta không chờ đợi và ỷ lại vào máy móc, phải triệt để tận dụng lao động thủ công, tận dụng những khả năng sẵn có để tự làm nhiều công trình thủy lợi ở địa phương. Phải dấy lên một phong trào cách mạng rộng lớn, thu hút hàng triệu quần chúng ở nông thôn, thành thị, quân đội, học sinh, công nhân, viên chức, tiến quân mạnh mẽ vào mặt trận thủy lợi bằng những ngày công lao động XHCN. Chúng ta phải giành sự chú ý đúng mức đối với Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có những điều kiện địa lý và khí hậu rất thuận lợi để trở thành vựa lúa quan trọng của nước ta. Chúng ta phải động viên và tổ chức ở đó một phong trào quần chúng hào hứng làm thủy lợi, nạo vét hệ thống kênh cũ, đào thêm nhiều rạch mới, đắp đập ngăn nước mặn và giữ nước ngọt, mau chóng đem lại hiệu quả kinh tế to lớn của vùng đất phì nhiêu này. Các tỉnh Nam Trung Bộ cần khôi phục các công trình thủy lợi cũ, xây dựng hàng loạt công trình chống hạn, giải quyết nước ăn, nước tưới và nước chăn nuôi gia súc ở các vùng kinh tế mới. Các tỉnh miền Trung cần xây dựng thêm các công trình chống hạn và chống úng. Các tỉnh miền Bắc cần sớm hoàn chỉnh hệ thống thủy nông, kiên quyết thanh toán diện tích úng ở Đồng bằng Bắc Bộ. Trên địa bàn cả nước cần mở rộng mạng lưới điện phù hợp với kế hoạch xây dựng thêm các trạm bơm điện cỡ lớn. Phát triển đào giếng ở các vùng, đảm bảo có nước ăn và nước tưới”. Cũng từ diễn đàn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phải kết hợp với việc xây dựng nông thôn mới”.

 

 

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV

       Để phấn đấu thực hiện mục tiêu của Đại hội đề ra đến năm 1980 cả nước đạt 21 triệu tấn lương thực quy thóc, khai hoang phục hóa đạt 1,4 triệu hecta, Bộ Thủy lợi đã xây dựng kế hoạch phấn đấu đến 1980 tưới được 5,48 triệu hecta gieo trồng lúa, trong đó Đông Xuân và Hè Thu tưới 2,45 triệu hecta. Kế hoạch mở ra hàng loạt công trình mới, chủ yếu là ở Miền Nam. Vốn xây dựng cơ bản theo phương án thấp cũng cần đến 4,18 tỷ, phương án cao cần tới 5,68 tỷ cùng thời kỳ (Theo báo cáo kế hoạch 5 năm 1976-1980 của Bộ Thủy lợi - Tài liệu lưu trữ Bộ).

       Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V từ 27/3 đến 31/3/1982 đánh giá về những khuyết điểm, sai lầm thời kỳ 1976-1980 đã nêu: “Chúng ta thấy chưa hết những khó khăn, phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến; thấy chưa hết quy mô của những đảo lộn kinh tế và xã hội sau một cuộc chiến tranh lâu dài; thấy chưa hết khó khăn phức tạp trong việc khắc phục những yếu kém của chúng ta về quản lý kinh tế xã hội; lường chưa hết những diễn biến có mặt không thuận lợi trong tình hình thế giới. Do đó, chúng ta đã chủ quan, nóng vội đề ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô và quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất, nhất là lúc ban đầu. Nóng vội còn một số biểu hiện khác như đưa quy mô hợp tác xã nông nghiệp lên quá lớn ở một số địa phương, như lập kế hoạch và triển khai xây dựng một số công trình khi còn rất thiếu tài liệu điều tra, nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo”. Ngành Thủy lợi cũng trong tình hình như báo cáo chính trị nêu trên. Do khó khăn chồng chất của đất nước, tổng kết kế hoạch 1975-1980, mặc dù được ưu tiên, Nhà nước cũng chỉ đảm bảo cho xây dựng thủy lợi 1,78 tỷ đồng, chưa được một nửa kế hoạch thấp. Trước tình hình đó, Bộ đã phải dừng mở công trường đối với 15 công trình lớn đã ghi kế hoạch chuẩn bị, tiếp sau đó đã chủ động đình hẳn 10 công trình đang thi công dở dang hoặc đang chuẩn bị mặt bằng thi công (theo tài liệu Kế hoạch 1981-1985 Bộ Thủy lợi trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tháng 10/1981).

 

 

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V

       Kết thúc kế hoạch 1976-1980, đến năm 1980 sản xuất lương thực đạt 14,4 triệu tấn, trong đó lúa đạt 11,65 triệu tấn. Khai hoang trong 5 năm chỉ đạt 708.000 ha, trong đó đưa vào sản xuất nông nghiệp 564.000 ha (theo số liệu thống kê nông nghiệp 35 năm 1955-1990, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1991). Kết quả trên thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu Đại hội IV đề ra. Về thủy lợi, có sự phấn đấu quyết liệt của cả nước, đến năm 1980 diện tích tưới lúa cả năm được 3,77 triệu ha trên 5,7 triệu ha gieo trồng, đạt 66,1%, trong đó Đông Xuân tưới 1,5 triệu ha trên 1,7 triệu ha gieo trồng, đạt 91%, Hè Thu tưới 570.000 ha trên 700.000 ha gieo trồng, đạt 81%, lúa mùa tưới 1,7 triệu ha trên 3,3 triệu ha gieo trồng, đạt 51%.

       Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã nêu: “Phấn đấu khoảng 3 kế hoạch 5 năm sử dụng cả 10 triệu ha đất nông nghiệp, 15 triệu ha lâm nghiệp, gieo trồng bình quân hai vụ trên đất trồng cấy hàng năm”. Đây cũng là mục tiêu quan trọng nhất của ngành Thủy lợi phục vụ phát triển nông nghiệp.

       Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế xã hội trong 5 năm (1981-1985) và những năm 80 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng trình bày tại Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng , đã chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ thủy lợi như sau: “Hoàn chỉnh những công trình thủy lợi đã có, làm mới những công trình thủy lợi vừa và nhỏ là chủ yếu, chuẩn bị điều kiện để xây dựng những công trình thủy lợi lớn, đặc biệt phát triển thủy lợi hợp lý, có hiệu quả thiết thực ở Đồng bằng sông Cửu Long và tích cực thu hẹp diện tích bị úng ở Đồng bằng Bắc Bộ”.

       Từ cuối năm 1977, bè lũ Pôn Pốt mở các cuộc tấn công quân sự lấn chiếm trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, đã làm công tác thủy lợi các tỉnh phía Nam, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các chương trình xây dựng thủy lợi ở vùng tứ giác Long Xuyên, bắc sông Vàm Nao, Đồng Tháp Mười và Đông Nam Bộ phải đình đốn. Đầu năm 1979, thế lực xâm lược phương Bắc lại tấn công vào sáu tỉnh biên giới phía Bắc, gây rất nhiều tội ác với nhân dân ta, đã tàn phá hầu hết các công trình thủy lợi dọc theo biên giới từ Quảng Ninh đến Lai Châu. Tình hình kinh tế - xã hội của đất nước sau chiến tranh hai đầu biên giới là rất nghiêm trọng.

       Công tác đê điều và phòng chống lụt bão được mở rộng trên phạm vi cả nước. Ở Miền Nam, nhiệm vụ quan trọng cấp bách là tăng cường chỉ đạo, chỉ huy và nâng cao tính chủ động trước thiên tai, bão lũ của nhân dân và chính quyền các cấp. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ đã thành lập Phân ban chỉ huy chống lụt, bão Miền Trung và Nam Bộ tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Công tác đê điều thời kỳ này đã chú ý hình thành chiến lược phát triển đê biển Duyên hải Miền Trung và Nam Bộ cùng với hệ thống đê bao chống lũ sớm đầu vụ.

       Tình hình kinh tế đất nước đầu những năm 80 rất khó khăn, khả năng đầu tư cho thủy lợi bị hạn chế, mặt khác những công trình dở dang của kỳ kế hoạch 76-80 kéo sang rất lớn (còn tới 1,164 tỷ đồng, kế hoạch 81-85 cũng chỉ bố trí được 864 triệu đã chiếm 46,3% kế hoạch trình xin vào 81-85), chưa kể thực hiện nhiệm vụ hoàn chỉnh thủy nông cũng là danh mục các công trình cũ kéo sang. Vì vậy, ngoài việc tiếp tục đầu tư củng cố đê điều, trong thực hiện kế hoạch 1981-1985 rất ít mở mới công trình thủy nông. Đầu tư thủy lợi thời kỳ này chủ yếu cho Đồng bằng sông Cửu Long, tiêu úng ở Miền Bắc, và một số vùng rất khó khăn về lương thực ở Miền Núi, Khu IV và Tây Nguyên.

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi.

 

 


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article