1. Hoàn chỉnh thủy nông giai đoạn (1968 - 1975)

Phát triển nhanh chóng hệ thống thủy lợi là thành tựu to lớn của chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, góp phần ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong điều kiện chiến tranh kéo dài ở cả hai miền, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Tuy nhiên, tình trạng nhiều công trình thủy lợi không đạt hiệu quả do việc xây dựng chưa đồng bộ. Các hệ thống thủy lợi hầu hết đã được ngân sách trung ương đầu tư phần đầu mối và kênh chính, nhưng phần kênh và công trình trên kênh cấp dưới chưa được địa phương đầu tư theo kế hoạch đã định. Do vậy, hệ thống chưa phát huy hiệu quả, năng lực tưới tiêu không đạt như tính toán thiết kế.

       Ngày 25 tháng 10 năm 1968, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi đã ban hành Chỉ thị 20-CT/TN, yêu cầu các tỉnh, thành phố bổ sung, nâng cao quy hoạch hoàn thiện hệ thống, nhằm đảm bảo các hệ thống thủy nông phải được hoàn chỉnh từ đầu mối đến mặt ruộng trong hai đến ba năm. Trong chương trình công tác năm 1970, ngành Thủy lợi xác định nhiệm vụ trọng tâm toàn ngành là tập trung hoàn chỉnh các hệ thống đã có, phục vụ tốt cho quản lý khai thác.

       Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa II (tháng 6/1970), Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã yêu cầu “Phải phát động một phong trào rộng lớn, nhằm hoàn chỉnh thủy nông ở những vùng đã có công trình”. Công tác hoàn chỉnh thủy nông thời kỳ này được Chính phủ quan tâm đặc biệt, chỉ sau nhiệm vụ quốc phòng. Ngày 16 tháng 6 năm 1972, cùng với việc quyết định thành lập Ban chỉ đạo hoàn chỉnh thủy nông ở Trung ương theo Nghị quyết 118-CP, Chính phủ cũng xác định: “Việc hoàn chỉnh thủy nông ở địa phương nào, cấp ủy Đảng và chính quyền nơi đó, phải coi đó là một công tác lớn tập trung sức để làm cho tốt”. Hàng trăm cán bộ chuyên ngành được tổ chức thành các tổ công tác về các địa phương chỉ đạo hoàn chỉnh thủy nông; giúp các tỉnh đánh giá hiện trạng công trình, quy hoạch hoàn chỉnh, lập nhiệm vụ thiết kế và xây dựng kế hoạch hoàn chỉnh thủy nông trong ba năm (1973-1975). Việc hoàn chỉnh không chỉ là đào đắp kênh mương các cấp, mà còn phải xem xét lại thiết kế, quy hoạch, quản lý, điều chỉnh những bất hợp lý sau thời gian vận hành. Hoàn chỉnh thủy nông đã kết hợp cải tạo đồng ruộng với tưới tiêu khoa học, kết hợp chuyển vụ hè thu, tránh né úng lụt chính vụ; không những tăng diện tích tưới tiêu mà còn nâng cao hệ số tưới, tiêu và tần suất đảm bảo, khai thác chiều sâu thủy lợi.

       Để tháo gỡ vướng mắc về vốn đầu tư, Chính phủ cho phép Liên bộ Thủy lợi - Tài chính - Ủy ban Kế hoạch Nhà nước ban hành Thông tư ngày 2 tháng 5 năm 1974, thay thế thông tư Liên bộ “ba kết hợp”. Chủ trương lúc này được đổi mới, quy định ngân sách nhà nước đầu tư hoàn chỉnh hệ thống từ đầu mối đến kênh mương và công trình trên kênh mương các cấp, đến tận mặt ruộng. Nhiều tỉnh đã phát động phong trào rộng khắp, do các cấp ủy Đảng trực tiếp lãnh đạo, phát huy vai trò của các đội thủy lợi 202 trên khắp các công trường, thực hiện có hiệu quả chủ trương hoàn chỉnh thủy nông. Kế hoạch hoàn chỉnh thủy nông ba năm (1974-1976) trên toàn miền Bắc được công bố là 900 ngàn hecta, trong đó 710 ngàn hecta đảm bảo cả tưới và tiêu, 190 ngàn hecta đảm bảo từng mặt tưới và tiêu.

       2. Chuẩn bị cho Thủy lợi miền Nam

       Thực hiện nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, ngành Thủy lợi đã chuẩn bị cho thủy lợi miền Nam ngay từ khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Năm 1966, Bộ Thủy lợi thành lập Phòng B, gồm một số cán bộ chuyên môn, kỹ thuật thủy lợi ưu tú, am hiểu về miền Nam, tiến hành sưu tầm, nghiên cứu tài liệu về thủy lợi miền Nam do Pháp để lại, đồng thời thu thập tài liệu từ các nguồn khác. Phòng đã giúp lãnh đạo Ngành sớm hình thành tư duy chiến lược phát triển thủy lợi miền Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Khi cuộc chiến tranh đang diễn ra vô cùng ác liệt ở cả hai miền Nam, Bắc, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn, với tầm nhìn xa và trách nhiệm “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, đã lặng lẽ chỉ đạo tiếp nhận thiết bị viện trợ, thành lập Công ty tàu cuốc và Trường công nhân tàu cuốc. Chính thiết bị và lực lượng công nhân kỹ thuật được đào tạo bài bản đã có mặt tại Nam Bộ sau giải phóng, nạo vét hàng loạt kênh trục, đào kênh Hồng Ngự, nhanh chóng mở ra công cuộc khai phá Đồng Tháp Mười vĩ đại và hiệu quả nhất từ trước đến nay.

       Năm 1971, Bộ Thủy lợi thành lập tổ chức cấp vụ trực thuộc Bộ, đặc trách về thủy lợi miền Nam, gọi tắt là Ban B. Ban này có chức năng tham mưu, trực tiếp thu thập tài liệu về tình hình thủy lợi miền Nam, đề xuất các nghiên cứu chuyên đề chuẩn bị cho phát triển thủy lợi miền Nam khi đất nước thống nhất.

       Từ cuối năm 1974, tình hình cách mạng miền Nam phát triển nhanh chóng, thế và lực của ta lớn mạnh không gì ngăn cản nổi, nhiều vùng giải phóng được mở rộng. Để chủ động đáp ứng yêu cầu của cách mạng, Bộ Thủy lợi quyết định lập đoàn công tác của Bộ có đầy đủ cán bộ kỹ thuật các chuyên ngành, do thứ trưởng Lê Tính dẫn đầu, vào vùng giải phóng miền Nam công tác. Đoàn đã theo bước chân quân giải phóng tiến vào tiếp quản Sài gòn với danh nghĩa Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

       Trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ, ác liệt, hầu hết cán bộ thủy lợi vào chiến trường đều có nhiệm vụ chính là làm thủy lợi. Nhiều thông tin cập nhật, tài liệu và các kết quả nghiên cứu của ngụy quyền đã được gửi ra miền Bắc. Cuối năm 1965, đã có đoàn cán bộ thủy lợi đi B tới 62 cán bộ kỹ thuật, trong đó có nhiều kỹ sư từng lăn lộn với công tác thủy lợi ở miền Bắc hàng chục năm, gồm đủ các chuyên ngành: quy hoạch tổng hợp, khảo sát, thiết kế, thi công. Nhiều kỹ sư thủy lợi đã vào tận chiến trường Tây Nam Bộ. Trong thời kỳ đó, có nhiều công trình thủy lợi nhỏ đã được đào, đắp trong vùng giải phóng như ở Năm Căn (Minh Hải), Ba Tri (Bến Tre) và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Từ năm 1965 đến ngày giải phóng, Bộ Thủy lợi đã cử 660 cán bộ kỹ thuật các chuyên ngành vào Nam công tác, nhiều người trong đó đã anh dũng hy sinh. Sự đóng góp và hy sinh cao quý của các anh, các chị đã đưa ngành Thủy lợi trở thành ngành đi đầu, có điều kiện triển khai hoạt động hiệu quả ở miền Nam ngay từ những ngày đầu giải phóng.

 

 

Quy hoạch Thủy lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long

 

 

Quy hoạch Chống lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long

 

 

Quy hoạch Thủy lợi vùng Đồng tháp Mười

 

 

Quy hoạch Thủy lợi vùng Tứ giác Long xuyên

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi.

 



Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article