Công tác đê điều và phòng chống lụt bão miền Bắc thời kỳ chiến tranh được triển khai theo quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng. Chính phủ đã phê duyệt, cho thực hiện dần từng bước quy hoạch phòng chống lũ hạ du, trước khi hoàn thành quy hoạch các hồ điều tiết thượng nguồn, đồng thời đề ra các giải pháp xây dựng và tu bổ công trình đê điều, hồ chứa cắt lũ, cùng với các khu phân, chậm lũ được hoàn thành theo các kịch bản. Quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng mang ý nghĩa khoa học, kinh tế-kỹ thuật toàn diện và lâu dài. Không chỉ định hướng cho trị thủy và khai thác đồng bằng Bắc bộ, mà còn định hướng cho các ngành kinh tế-xã hội trong lưu vực phát triển.

       Chưa bao giờ ngành Thủy lợi Việt Nam vừa bị chiến tranh phá hoại hủy diệt, vừa bị thử thách vô cùng khắc nghiệt của thiên tai lũ lụt như những năm (1965-1972). Trong khoảng thời gian ngắn ấy, liên tục sau năm lũ sông Hồng và sông Thái Bình xuất hiện, gây nguy hiểm cho đồng bằng sông Hồng ở mức lớn nhất thế kỷ. Đây cũng là giai đoạn miền Bắc giành nhiều nguồn lực cho xây dựng, phát triển thủy lợi, đắp đê và phòng chống lũ hạ du Bắc Bộ.

       Năm 1966, Chính phủ quyết định giao Bộ trưởng Bộ Thủy lợi đảm nhiệm Trưởng Ban chỉ huy chống bão lụt trung ương, thay vì Phó Thủ tướng đảm nhiệm như trước đây. Cũng từ năm 1966, lũ sông Hồng hàng năm liên tiếp cao hơn 20 năm về trước. Lũ năm 1966 xấp xỉ 12 mét tại Hà Nội; lũ năm 1968 lên đến 12,23 mét, vượt quá mức lũ lịch sử đã ghi nhận được ở sông Hồng. 

       Năm 1969, lũ sông Hồng lên to hơn lũ 1968. Chủ tịch đang bị bệnh nặng, Người nói: “Nước đang lên to đấy, chú Kỳ bảo Bác sơ tán lên chỗ cao, nhưng Bác không đi đâu, Bác ở với dân, các chú đừng để lụt, đừng để vỡ đê([1]). Năm 1970, lũ sông Hồng vượt lên mức 12,5 mét, hệ thống đê Bắc Bộ vẫn được giữ vững.

 

 

Lũ trên sông Đuống tại Cầu Đuống tháng 8/1971 – nguồn: Archves

       Ngày 4 tháng 5 năm  1971, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 138-TTg về việc đẩy mạnh công tác chuẩn bị phòng chống lụt bão năm 1971. Ngày 8 tháng 5 năm 1971, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 90-CP về việc tổ chức đội quản lý đê. Cuối tháng 8 năm 1971, sông Hồng xy ra tổ hợp lũ của hai hệ thống sông Hồng - Thái Bình, trở nên cực kỳ hung dữ, vượt xa lũ 1945. Theo tính toán, nếu không có các biện pháp giảm lũ thì mực nước Hà Nội đã có thể lên đến 14,8 mét. Mực nước thực đo tại Hà Nội là 14,13 mét, vượt quá mức thiết kế của đê điều gần một mét, đã gây ra vỡ đê ở hai nơi đáng tiếc nhất là Nhất Trai và Cống Thôn khi lũ đã bắt đầu giảm thấp. Chỗ vỡ đều là nơi có có nền móng xấu và  sơ xuất canh phòng, hộ đê. Trận lũ làm thiệt hại cho thành phố Hà Nội và các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Hải Hưng, Vĩnh Phú. Hơn 20 vạn hecta lúa, màu bị mất trắng, 62 xí nghiệp trung ương và 122 xí nghiệp địa phương phải ngừng sản xuất. Nhiều tài sản của nhà nước và nhân dân bị mất mát, hư hỏng, nhiều nhà cửa, kho tàng bị ngập lụt, nhiều cầu cống và tuyến đường bị hư hại, giao thông đình trệ. Chỉ tính riêng tỉnh Hải Hưng, 18/22 huyện bị ngập lụt, bao gồm 189 xã với diện tích gần 156.000 hecta, gần 50% dân số chịu ảnh hưởng. Trong ba năm sau (1971-1973), nhiệm vụ nặng nề và quan trọng mà Chính phủ phải tập trung sức chỉ đạo là phòng chống và khắc phục hậu quả lũ lụt([2]).

 

 

Lũ sông Hồng năm 1971 – Nguồn: Archives

 

 

Lũ lụt tại Yên Viên năm 1971 – Nguồn: Archives

 

 

Lũ lụt tại Đập Đáy – Cầu Phùng năm 1971 – Nguồn: Archives

       Dù lũ quá lớn, vượt sức chống đỡ của con người, nhưng lũ 1971 đã để lại nhiều bài học sâu sắc về tổ chức quản lý, chuyên môn kỹ thuật và tính chịu trách nhiệm trước nhân dân của ngành Thủy lợi.

 

 

Lãnh đạo Bộ Thủy lợi họp, bàn phương án chống lũ – Nguồn: Archives

       Sau lũ 1971, đi đôi với tôn cao và củng cố chất lượng đê sông Hồng, sông Thái Bình, Chính phủ đã quyết định cải tạo Đập Đáy, tôn cao đê và cải tạo lòng sông Đáy nhằm tận dụng tối đa khả năng phân lũ sông Đáy, đồng thời xúc tiến xây dựng hồ Hòa Bình và vận hành hồ chứa Thác Bà để nâng cao năng lực chống lũ sông Hồng.

       Từ năm 1954 đến 1974, Ngành Thủy lợi cùng toàn dân, toàn quân trên miền Bắc đào đắp được 185 triệu mét khối đất, 2,139 triệu mét khối đá kè cho hệ thống đê điều. Cùng với thành quả của hàng nghìn năm dựng nước, hệ thống đê điều đã hoàn thành với  chiều dài 2.840 ki lô mét đê sông lớn do Trung ương quản lý. Trong đó, hệ thống đê sông Hồng dài 1.266 ki lô mét, đảm bảo mức thiết kế chống lũ 13,3 mét tại Hà Nội; hệ thống đê sông Thái Bình dài 763 ki lô mét, đảm bảo mức thiết kế chống lũ 6,5 mét tại Phả Lại. Vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh những năm (1961-1975) không xy ra vỡ đê, đã có 420 ki lô mét đê sông, 388 ki lô mét đê biển. Ngoài ra, còn có 2.034 ki lô mét đê sông nhỏ và đê bối do địa phương quản lý.

       Tính đến năm 1975, toàn Miền Bắc đã xây dựng được mạng lưới thủy nông có tổng năng lực thiết kế tưới nước khoảng 1,05 triệu ha; tiêu úng gần 30 vạn hecta. Mạng lưới đó gồm 31 trạm bơm điện lớn công suất 44.470 ki lô oát; 1.050 trạm bơm điện loại vừa và nhỏ với tổng công suất 108.000 ki lô oát; 15 hồ chứa dung tích mỗi hồ từ 10 triệu đến 500 triệu mét khối nước, 12 hệ thống cống, đập lớn có năng lực tưới mỗi hệ thống từ 10 đến 100 nghìn hecta; hàng nghìn cống tiêu dưới đê. Chúng ta đã đảm bảo đủ nguồn nước tưới cho 90 vạn hecta lúa Đông Xuân và hơn 1 triệu hecta lúa mùa, đưa vụ Đông Xuân vốn bấp bênh vì thiếu nước tưới, trở thành vụ sản xuất ổn định vững chắc, giải quyết một bước úng ngập vụ mùa, tạo điều kiện thâm canh trên nhiều vùng rộng lớn. Hoa màu, cây công nghiệp trong các hệ thống thủy nông cũng được đảm bảo tưới nước thích hợp. Cùng với tưới tiêu nông nghiệp, chúng ta đã cung cấp nước sinh hoạt và chăn nuôi gia súc cho nhiều vùng dân cư rộng lớn vốn thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô. Về thủy điện, đã xây dựng thủy điện Thác Bà 108 nghìn ki lô oát và một số thủy điện nhỏ như Bàn Thạch, Suối Củn. Phát động được phong trào xây dựng các thủy điện nhỏ 5-10 ki lô oát và các trạm thủy luân phục vụ bản làng miền núi. Thủy lợi cũng đã góp sức to lớn cải tạo môi trường sinh thái, phát triển giao thông nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

       Hệ thống tổ chức đồng bộ cùng với các thành tựu trên đây là tiền đề cơ bản để có thể nhanh chóng triển khai công tác thủy lợi ra cả nước sau giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.

       Thành tựu về thủy lợi sau 20 năm xây dựng 1954-1974 đã được cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đánh giá: “Tuy có khuyết điểm, công tác thủy lợi cũng đã thu được thành tích quan trọng là đã tạo nên những cơ sở vật chất kỹ thuật đáng kể nhất cho nền nông nghiệp nước ta. Do đó, đã hạn chế được nhiều tác hại của thiên tai, đưa các vụ sản xuất đi dần vào thế ổn định và góp phần đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất và tăng vụ trên nhiều vùng rộng lớn([3]).

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi.

 



([1]) Ngành Thủy lợi đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại, Tập san Thủy lợi số tháng 10/1969

([2]) Ban Chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Sđd, T II, tr. 332, 334

([3]) Lê Duẩn:  Một số ý kiến về công tác thủy lợi. Kỷ yếu Bộ Thủy lợi xuất bản năm 1974.


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article