Tngày 5 tháng 8 năm 1964, khi cuộc chiến tranh phá hoại diễn ra, hệ thống công trình thủy lợi miền Bắc trở thành mục tiêu tấn công phá hoại của giặc Mỹ. Mặc dù được bảo vệ, song từ Thanh Hóa trở vào, không công trình thủy lợi lớn, nhỏ nào còn nguyên vẹn. Trong năm 1965, đã có 50 hệ thống thủy lợi loại vừa và lớn trên phạm vi bảy tỉnh bị đánh phá là Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Hà, Hà Tây. Các hệ thống thủy lợi lớn như Bắc Nghệ An, sông Chu, đê sông Cả, sông Mã đều bị ném bom. Mức độ ác liệt ở vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh thể hiện ở tần số đánh phá các công trình. Đập Bàn Thạch bị đánh 11 trận. Cống Nam Đàn trong ngày 13 tháng 6 năm 1965 bị đánh tới bảy trận. Cống Bến Thủy trong ngày 3 tháng 11 năm 1965 bị đánh bốn trận.

       Ở Bắc Bộ, từ ngày 9 đến 16 tháng 9 năm 1965, hồ Suối Hai (Hà Tây) bị đánh 30 trận với hơn 300 quả bom các loại. Sang năm 1966, mức độ đánh phá càng ác liệt hơn, leo thang ra tất cả các tỉnh, nhằm vào tất cả các công trình thủy lợi lớn, vừa và nhỏ. Ở Hà Tĩnh, trạm bơm Linh Cảm bị đánh tám lần. Riêng đập Đô Lương bị đánh 34 trận trong tháng 6 năm 1966. Tỉnh Thanh Hóa, trong tháng 7 năm 1966, địch đánh 650 trận vào 100 công trình thủy lợi các loại. Từ tháng 2 năm 1965 đến tháng 2 năm  1966, giặc Mỹ đã đánh phá vào các công trình thủy lợi tổng cộng 1.300 trận([1]).

       Sang năm 1972, để cứu vãn nguy cơ phá sản hoàn toàn của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, chính quyền Nich xơn đã huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân, bắt đầu đánh phá trở lại miền Bắc từ ngày 6 tháng 4 năm  1972. Chỉ trong vòng bốn tháng (từ tháng 4/1972 đến cuối tháng 8/1972), máy bay Mỹ đánh phá 198 lần vào hệ thống đê, đập. Đặc biệt giữa mùa lũ tháng 8 năm 1972, chúng đánh phá 29 lần, làm cho hàng nghìn mét đê xung yếu bị sạt lở, nhiều cống ngăn mặn ven biển bị hư hỏng.

       Trong điều kiện vừa sản xuất, vừa chiến đấu, Đảng và Chính phủ vẫn quyết tâm: “Phải tạo ra những vùng nông nghiệp rộng lớn được tưới và tiêu nước chủ động, có điều kiện thâm canh, tăng năng suất. Bảo đảm tưới chắc chắn cho 80% diện tích lúa, 50% diện tích hoa màu và 60% diện tích cây công nghiệp. Thực hiện tưới và tiêu nước chủ động cho 1,4 triệu hecta và chống úng cho 218 ngàn hecta. Tiếp tục xây dựng thêm công trình loại lớn, loại vừa ở những nơi cần thiết và có trọng điểm, chú ý miền núi, trung du và khu IV”.

       Mùa khô năm 1965-1966, trong điều kiện chiến tranh phá hoại ác liệt, ngành Thủy lợi khởi công xây dựng hồ chứa nước Cấm Sơn dung tích 350 triệu mét khối. Công trình thuộc loại lớn, có nhiệm vụ mở rộng diện tích tưới cho hệ thống Cầu Sơn, bổ sung dòng chảy sông Thương về mùa kiệt, trực tiếp tưới cho huyện Lục Ngạn. Nhiều hạng mục trên hệ thống Bắc Hưng Hải, trước đây đã có quy hoạch nhưng chưa được xây dựng tiếp tục được triển khai. Phía hữu ngạn sông Hồng, xây dựng thêm các trạm bơm Vĩnh Trị (1966-1967), Như Trác (tưới 18.824 hecta, tiêu úng 4.628 hecta), Nhâm Tràng (1968-1972), tưới 5.835 hecta, tiêu úng 5.800 hecta), hình thành hệ thống sáu trạm bơm điện lớn nhất. Từ năm 1967, nhiều trạm bơm tiêu lớn được hoàn thành, tình trạng úng lụt “sáu tháng đi chân, sáu tháng đi tay” vùng Nam Hà đã được giải quyết.

       Để tưới cho vùng còn khô hạn Hà Tây và Hà Nội, sau khi hoàn chỉnh thiết kế kỹ thuật, ngành Thủy lợi đã khởi công xây dựng hồ Đồng Mô - Ngải Sơn có dung tích 80 triệu mét khối, làm nhiệm vụ cắt lũ, giảm ngập úng 3.500 hecta, tưới 12.700 hecta vụ chiêm và 1.400 hecta vụ mùa, thuộc các huyện Tùng Thiện, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ.

       Đối với Khu IV và miền núi, Nhà nước chủ trương ưu tiên đầu tư, mặc dù còn rất nhiều khó khăn. Giai đoạn (1966-1967), đã huy động nguồn lực khởi công một số hồ, đập loại vừa và nhỏ ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh Hóa, Hà Bắc, Hòa Bình, Yên Bái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái. Từ năm 1965, Bộ Thủy lợi đã thành lập Vụ Thủy lợi miền núi để đặc trách tham mưu cho Bộ về chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển thủy lợi miền núi. Ngành thủy lợi đã giành nhiều vật tư, thiết bị, tiền vốn và huy động hàng vạn đội viên thủy lợi từ miền xuôi lên làm thủy lợi miền núi. Từ 1965 đến 1975, ngoài việc phát triển mạnh mẽ thủy lợi nhỏ, 12 tỉnh miền núi Bắc Bộ đều được xây dựng các công trình vừa hoặc lớn. Tốc độ phát triển thủy lợi miền núi thời kỳ này được đánh giá là chưa có giai đoạn nào sánh được.

       Chiến tranh ác liệt đã gây ra tình trạng rất thiếu thốn nhân lực, vật lực và các điều kiện để khởi công thêm những công trình mới trong giai đoạn này. Theo chỉ đạo của Chính phủ, ngành Thủy lợi đã tập trung nghiên cứu, khảo sát thiết kế hàng loạt công trình, tạo điều kiện sẵn sàng xây dựng sau này khi chiến tranh kết thúc([2]). Số lượng lớn, đa dạng các công trình được nghiên cứu và khảo sát thiết kế giai đoạn này đã thể hiện tính chủ động của ngành Thủy lợi, thực sự đi trước một bước, nắm bắt thời cơ, để khi hòa bình thống nhất đất nước, chúng ta có điều kiện đồng loạt khởi công hàng loạt công trình thủy lợi trên khắp cả nước mà lịch sử đã ghi nhận.

       Từ năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Nhiệm vụ cần phải làm ngay lúc này là khôi phục các công trình thủy lợi sau chiến tranh phá hoại, hoàn chỉnh thủy nông và hoàn thành dứt điểm các công trình đang xây dựng.

Ngay trong năm 1974, đã khởi công hai công trình cấp nước cho công nghiệp: Đập Đá Bạc trên sông Diễn Vọng, Đập Thác Nhồng trên sông Trớc (Quảng Ninh). Vùng Điện Biên, đã triển khai xây dựng hồ chứa Pa Khoang trên núi Nậm Phăng, nơi đặt đại bản doanh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên.

       Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị ngày 1 tháng 6 năm 1972, trong mọi tình huống phải chi viện cao nhất cho miền Nam ruột thịt, nguồn lực lao động giành cho các công trường thủy lợi lúc này gặp rất nhiều khó khăn. Hình thức đội chủ lực làm thủy lợi theo Nghị định 135-CP ngày 20 tháng 10 năm  1968 không phù hợp, chỉ tồn tại trong khoảng một năm. Ngày 31 tháng 10 năm  1970, để thay thế, Chính phủ ban hành Nghị định 202-CP, quy định tạm thời một số chế độ đãi ngộ đối với đội thủy lợi trong hợp tác xã nông nghiệp, do vậy đã tăng cường sự gắn bó của người nông dân với hợp tác xã. Từ đó các đội thủy lợi của các hợp tác xã nông nghiệp được gọi là “Đội thủy lợi 202”. Đây là lực lượng quan trọng, là phong trào quần chúng, phát huy sức mạnh toàn dân làm thủy lợi có kỹ thuật và được trang bị cơ giới. Đến khi Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13 tháng 1 năm 1981 về thực hiện khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động và sau đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) ngày 5 tháng 4 năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, các “Đội thủy lợi 202 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, góp phần xây dựng nên những trang vàng truyền thống của ngành.

 

 

Cống Cầu Xe khởi công xây dựng năm 1969. Lưu lượng 230m3/s tiêu 156.000 ha;

Ngăn mặn cho huyện Tứ Kỳ trên 3.000 ha

 

 

Đập Đáy – Cầu Phùng bị vỡ trong trận lũ năm 1971

 

 

Công trình phân lũ Đập Đáy (được cải tạo giai đoạn 1973 – 1975),

gồm 6 cửa x 33,5m; cao trình ngưỡng +7m, lưu lượng phân lũ 5.000m3/s

 

 

Đập Thác Nhồng

 

Cống Nam Đàn đang được cải tạo, nâng cấp

 

 

Sửa chữa đập Đô Lương năm 1957

 

 

Đập Đô Lương sau khi được sửa chữa

 

 

Đập Bái Thượng

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi



([1]) Dựa theo các tài liệu họp báo, tố cáo tội ác chiến tranh của Bộ Thủy lợi, lưu trữ tại Bộ Thủy lợi.

([2]) Như các công trình hồ Kẻ Gỗ, đập Thác Muối, Thác Đĩa, quy hoạch tiêu úng sông Nghèn, tiêu úng Nam- Hưng- Nghi, Diễn- Yên- Quỳnh (Nghệ Tĩnh); quy hoạch bậc thang thượng nguồn Sông Chu, tiêu Sông Lý, Sông Hoàng, khảo sát thiết kế hồ Sông Mực, Yên Mỹ (Thanh Hóa); Yên Lập (Quảng Ninh); Pa Khoang (Lai Châu); Núi Cốc (Bắc Thái). Đặc biệt, đã tích cực chuẩn bị kỹ thuật cho công trình thủy điện Hòa Bình, kết quả đến năm 1974 đã có đầy đủ tài liệu về địa hình, địa chất, thủy văn, dân sinh, kinh tế và các cơ sở tính toán cần thiết cung cấp cho phía Liên Xô (cũ) lập luận chứng kinh tế kỹ thuật.

 


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article