Báo cáo nhiệm vụ và phương hướng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (từ ngày 5 đến 10/9/1960) đã nhấn mạnh: “Để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, cần phát triển mạnh mẽ công tác thủy lợi và cải tạo đất. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cần xúc tiến việc xây dựng mạng lưới thủy lợi, kết hợp những công trình hạng nhỏ do nhân dân làm, với những công trình hạng vừa và lớn do nhà nước làm, hoặc Nhà nước và nhân dân cùng làm. Bước đầu trị thủy và khai thác sông Hồng. Phải đẩy mạnh công tác thủy lợi hơn nữa, nhằm căn bản giải quyết nạn hạn hán phổ biến, thanh toán nạn chua, mặn, thu hẹp tối thiểu diện tích úng, đảm bảo chống lụt, bão, mặn theo yêu cầu nhất định”.

Tháng 7 năm 1961, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V (khóa III), bàn về phát triển nông nghiệp, đã đề ra nhiệm vụ cụ thể của công tác thủy lợi trong kế hoạch 5 năm (1961-1965). Hội nghị đã chỉ rõ quan điểm: “Thủy lợi là biện pháp hàng đầu để phát triển sản xuất nông nghiệp. Thực hiện công tác thủy lợi nhanh và mạnh gắn liền với hợp tác hóa là phương châm chủ yếu. Vì yêu cầu chung, công tác thủy lợi phải tiến lên thực hiện được tưới nước và tiêu nước một cách chủ động. Đồng thời, phải sử dụng để nuôi cá, trồng cây, phát điện, kết hợp thủy lợi với giao thông thủy và lấy phù sa bón ruộngPhương châm công tác thủy lợi là kết hợp giữ nước và tháo nước, kết hợp những công trình hạng nhỏ do nhân dân làm với công trình hạng vừa và lớn do Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhằm mau chóng thực hiện mạng lưới thủy lợi hoàn chỉnh khắp nơi. Nhiệm vụ của thủy lợi trong 5 năm đó cũng được Hội nghị nêu rõ: Trong 5 năm tới, công tác thủy lợi phải được chủ động phát triển sớm, đảm bảo đủ nước tưới cho lúa, một phần tưới cho hoa màu và cây công nghiệp. Trong đó phải đảm bảo một phần hai diện tích được tưới nước và rút nước một cách chủ động. Về chống lụt bão, phải tăng cường củng cố đê sông, đê biển, nạo vét các lòng sông, bảo đảm chống được mực nước cao, và sức gió mạnh đã từng xy ra… Công tác thủy lợi phải kết hợp với cải tạo đất từng bước, phải chú ý đến những vùng đang gặp khó khăn vì hạn, úng, chua, mặn. Ở một số vùng cao miền núi, còn phải giải quyết nước uống cho người và gia súc. Cần xúc tiến việc quy hoạch sông Hồng, bắt đầu xây dựng một số công trình cần thiết, đồng thời bắt đầu nghiên cứu quy hoạch một số sông lớn”.

Về công tác đê điều, chống lụt bão, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khóa III) ngày 2 tháng 1 năm 1963 đã ra Nghị quyết 65-NQ/TW về các chủ trương phòng và chống lụt ở Bắc Bộ trong 10 năm tới (1963-1973). Nghị quyết đặt ra mục tiêu tăng cường công tác đê điều để chống lũ ở Hà Nội mức 13,3 mét. Các công trình hỗ trợ như Tam Nông - Thanh Thủy, Vân Cốc cùng với các giải pháp toàn diện về thủy lợi và phòng chống lũ lụt cũng được đặt ra cụ thể cho từng vùng.

Được Trung ương định hướng, trong kế hoạch 5 năm (1961-1965) ngành Thủy lợi đã có bước phát triển mạnh mẽ về xây dựng cơ bản, chủ yếu là giải quyết nước tưới, tăng cường đê điều chống lũ, bước đầu giải quyết tiêu úng, ngập lụt. Bộ Thủy lợi và Điện lực xây dựng kế hoạch thủy lợi 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), gồm những nội dung chủ yếu như sau:

- Đến hết năm 1965 phải bảo đảm đủ nước tưới cho 80% diện tích lúa, tưới chủ động cho khoảng 50% diện tích canh tác, đủ nước tưới cho vùng trồng cây công nghiệp tập trung, mở rộng hơn việc tưới cho hoa màu. Kế hoạch cụ thể bao gồm:

- Đầu tư nạo vét nông giang, tiếp tục thi công và khởi công 8 trạm bơm lớn trước đây đã tạm dừng, xây dựng thêm 35 công trình lớn khác. Trong đó, khu IV có 10 công trình, chiếm 16% tổng số vốn. Miền núi có hai hồ chứa nước và hai trạm thủy điện lớn, chiếm 8% tổng số vốn. Còn lại 31 công trình, chiếm 76% tổng số vốn, đầu tư cho vùng đồng bằng Bắc Bộ;

- Xây dựng thêm 28 công trình dưới hạn ngạch và tiếp tục thi công 28 công trình đang làm dở dang. Trong số này có tám công trình thuộc miền núi. Các tỉnh sẽ xây dựng hàng loạt công trình trung thủy nông và làm đê, kè, cống;

- Chính phủ trợ cấp cho nhân dân làm thủy lợi nhỏ miền núi theo tinh thần nhà nước và nhân dân cùng làm.

Về cơ chế, chính sách, ngày 5 tháng 6 năm 1962, Chính phủ có Nghị định 66-CP, ban hành Điều lệ thu thủy lợi phí, nhấn mạnh việc thi hành chế độ hạch toán kinh tế ở các hệ thống nông giang. Các ban quản lý hệ thống được sử dụng một phần thủy lợi phí để trang trải chi phí về quản lý, duy tu bảo dưỡng thường xuyên, phần còn lại nộp vào ngân sách để giảm chi cho ngân sách nhà nước. Điều này có ý nghĩa tích cực trong quản lý hệ thống thủy nông, có tính giáo dục tiết kiệm, nâng cao tính hiệu quả trong sử dụng nước. Tiếp sau đó, ngày 26 tháng 9 năm 1963, Chính phủ có Nghị định 141-CP, ban hành Điều lệ quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy nông, trong đó quy định rõ ba nội dung: quản lý công trình, quản lý nước và quản lý kinh tế. Điều lệ đã thể hiện tư duy quản lý mới các công trình công ích, làm cơ sở phát triển bền vững sau này. Ngày 21 tháng 11 năm 1963, Chính phủ tiếp tục có Nghị định 173-CP, ban hành Điều lệ bảo vệ Đê điều.

Tính đến năm 1965, ngành Thủy lợi đã có 1.118 cán bộ đại học, 4.000 cán bộ trung cấp và hơn 2.500 công nhân kỹ thuật được đào tạo chính quy. Lực lượng thi công đã có bốn Công ty thi công trực thuộc Bộ có trang bị cơ giới, một công ty tàu cuốc có thiết bị được viện trợ của nước ngoài. Nhiều tỉnh có đội công trình thủy lợi được trang bị cơ giới, như Nghệ An, Nam Hà, Hải Hưng, Lạng Sơn…

Nghị quyết 197-TTg ngày 1 tháng 6 năm 1964 của Thường vụ Hội đồng Chính phủ phát động phong trào làm thủy lợi hai năm (1964-1965), động viên toàn Đảng, toàn dân tham gia xây dựng thủy lợi. Nhờ vậy, tiến độ thi công hàng loạt công trình đã được đẩy nhanh. Các công trình lớn do ngân sách trung ương quản lý đạt 118 triệu đồng, bằng 130% vốn đầu tư ba năm (1961-1963). Công trình vừa và nhỏ do ngân sách địa phương quản lý đạt 47,32 triệu đồng, bằng 148% so với kế hoạch ba năm trước. Vốn đầu tư từ ngân sách trung ương đã có điều chỉnh thực tế so với kế hoạch đặt ra từ trước, đối với đồng bằng đạt 113,2%; trung du: 100%; khu IV: 159,3%; miền núi: 421%. Khu IV và miền núi đã được ưu tiên hơn theo chỉ đạo của Chính phủ.

Mỗi năm của giai đoạn này ngành Thủy lợi đã huy động 40-50 triệu ngày công nghĩa vụ. Ở nông thôn, đã dấy lên phong trào làm thủy lợi nhỏ, kết hợp xây dựng nông thôn mới, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo cơ hội phát triển giao thông, trồng cây, nuôi cá. Các hệ thống thủy nông nhờ vậy cũng được phát triển thêm kênh mương còn thiếu, nâng cao hiệu quả tưới.  Đối với các tỉnh miền núi, đã mở ra phong trào làm các hồ chứa nước loại nhỏ, xếp đá làm đập dâng dẫn nước vào ruộng… Mỗi công trình có thể tưới được 100-200 hecta lúa, tạo bước phát triển cho nông nghiệp, nông thôn miền núi.

Trong 5 năm (1961-1965) xây dựng thủy lợi đã có bước nhảy vọt. Đã xây dựng được 83 công trình thủy lợi lớn; 2.830 công trình loại vừa, có năng lực tưới đạt 449.888 hecta so với 378.625 hecta kế hoạch; tiêu úng đạt 217.608 hecta so với 175.385 hecta kế hoạch, phục vụ nước sinh hoạt trên nhiều vùng rộng lớn. Năng lực tưới và tiêu đã gấp 1,5 lần tổng năng lực các công trình thủy lợi do chế độ cũ xây dựng trong hơn 80 năm trước Cách mạng Tháng Tám ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Ngoài ra, còn có hàng vạn công trình nhỏ do xã và hợp tác xã nông nghiệp tự làm, tưới cho hàng vạn hecta ở những vùng chưa có hệ thống thủy nông. Thủy lợi thật sự tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho cuộc cách mạng trong nông nghiệp, phát triển vụ xuân, tăng diện tích gieo trồng, đồng thời tạo nguồn nước cải thiện đời sống cho đồng bào, góp phần định canh, định cư.

Công tác đê điều, chống lụt cũng không ngừng được quan tâm. Chúng ta đã quy hoạch lại tất cả các tuyến đê; tôn cao, áp trúc, thả kè ổn định lòng sông, hệ thống đê sông và đê biển được tăng cường. Hàng trăm công trường đắp đê với hàng vạn dân công được huy động. Bắc Bộ đạt mức đảm bảo chống lũ 13,30 mét tại Hà Nội và 6,50 mét tại Phả Lại (sau này đã được thử thách trong lũ 1968 và lũ 1971). Các khu chậm lũ Tam Thanh (Vĩnh Phú), Vân Cốc (Hà Tây) được xây dựng. Đê sông từ Thanh hóa đến Hà Tĩnh được nâng cao, củng cố, phấn đấu chống được lũ lớn nhất đã từng xảy ra.

 

 

Hệ thống Thủy nông Bắc Hưng Hải ngày nay

 

 

Toàn cảnh cống Long Tửu đưa nước sông Đuống vào trạm bơm Trịnh Xá

 

 

Trạm bơm Đan Hoài xây dựng trong giai đoạn 1961 – 1965

 

 

Gần 1 vạn công nhân lao động thi công trên công trường Hồ Suối Hai 1961-1964

Nguồn: TTXVN

 

 

Toàn cảnh Hồ Suối Hai ngày nay

 

 

Cụm công trình đầu mối Tắc Giang

 

 

Đập chính Hồ Tà Keo, dung tích hồ chứa 9 triệu m3

 

 

Hồ Pa Khoang Dung tích 34 triệu m3, đập đất dài 196 m, cao 26m tưới cho 3.317 ha

cánh đồng Mường Thanh

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi.


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article