Đến năm 1958, nước ta đã căn bản hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh, trong đó nông nghiệp và thủy lợi đã vượt mức trước kháng chiến. Nhiệm vụ cách mạng lúc này chuyển sang thời kỳ vừa phát triển, vừa cải tạo kinh tế. Bộ Chính trị có Nghị quyết 63 (khóa II), nêu rõ mục tiêu của ngành Thủy lợi trong Kế hoạch 3 năm (1958-1960): Thủy lợi là một bộ phận trọng yếu của sức sản xuất xã hội, không ngừng phát triển theo các bước tiến của cách mạng. Quan hệ sản xuất đổi mới ở nông thôn, hợp tác hóa đang mở đường cho sức sản xuất phát triển. Ngược lại, sức sản xuất phát triển, thủy lợi phát triển sẽ có tác dụng thúc đẩy nông dân tổ chức lại dưới những hình thức ngày càng cao hơn. Vì vậy công tác thủy lợi phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế của Đảng trong mọi thời kỳ. Đồng thời dựa vào việc phục vụ nhiệm vụ ấy mà không ngừng phát triển thủy lợi…Phải thắng được lụt lớn đã xy ra. Cần mở rộng diện tích được tưới nước, thu hẹp diện tích cấy nhờ trời, bảo đảm đủ nước theo yêu cầu cải tiến kỹ thuật toàn bộ, phục vụ tốt cho phong trào hợp tác hóa, nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp trong kế hoạch ba năm, đồng thời đặt cơ sở vững chắc tiến lên thủy lợi hóa”.

       Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), họp tháng 10 năm 1958 về nhiệm vụ Kế hoạch 3 năm (1958-1960) đã nêu: Nước là vấn đề quan trọng bậc nhất. Phải đảm bảo chống hạn hán, úng thủy và chống bão, ngăn mặn. Phương châm lấy giữ nước là chính, thủy lợi nhỏ là chính, nhân dân làm là chính. Nhà nước làm một số công trình hạng lớn cần thiết (phương châm ba chính).

       Về đội ngũ, thời kỳ này có các kỹ sư công chính được đào tạo từ thời thuộc Pháp. Sau năm 1957 có thêm các kỹ sư được Đảng và Nhà nước gửi đi đào tạo ở Trung Quốc trở về. Lực lượng chuyên môn còn hàng chục trung cấp kỹ thuật được đào tạo trước cách mạng và trong kháng chiến, khóa 7 chuyên ngành thủy lợi của Trường Công chính Trung ương cũng ra trường với hơn 130 kỹ thuật viên, nhiều hơn số kỹ thuật viên công chính được đào tạo trong 41 năm Pháp thuộc (1902 - 1943). Ở các liên khu, đã kịp đào tạo hàng trăm cán bộ kỹ thuật sơ cấp và công nhân. Trường Trung cấp Thủy lợi đã cho ra trường khóa đầu tiên đào tạo chính quy, có chất lượng cao.

       Thực hiện Nghị quyết 14 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã tập trung nguồn lực xây dựng một số công trình lớn. Ngoài việc tiếp tục thi công các công trình đã khởi công thời kỳ khôi phục kinh tế, ngành Thủy lợi tiếp tục mở ra các công trình vừa và lớn. Trạm bơm Thụy Phương, tưới 4,14 nghìn hecta. Trạm bơm Gia Thụy, tưới 1,3 nghìn hecta. Hồ Đại Lải, dung tích chín triệu mét khối, tưới một nghìn hecta. Hồ Suối Hai, dung tích chín triệu nét khối, giảm lũ sông Tích và tưới một nghìn hecta. Thủy điện Bàn Thạch trên kênh Bắc của hệ thống sông Chu, công suất 960 li lô oát, chuẩn bị cấp điện cho trạm bơm Nam sông Mã trong tương lai. Hồ Thượng Tuy (Hà Tĩnh). Đồng thời khẩn trương hoàn thiện thiết kế kỹ thuật tám trạm bơm điện lớn, có vai trò quan trọng ở các vùng Trịnh Xá thuộc hệ thống Ngũ Huyện Khê (Bắc Ninh), Đan Hoài, La Khê, Thường Tín (Hà Đông), Quảng Oai (Sơn Tây), Nam Vĩnh Phúc (Vĩnh Phúc), Yên Dũng (Bắc Giang), Anh Sơn (Nghệ An). Trên đê Tả Đáy, chúng ta xây dựng cống Quế để tiêu úng cho huyện Kim Bảng (Hà Nam); khởi công hồ chứa Khuôn Thần để tưới một nghìn hecta của huyện Lục Ngạn; khởi công thủy điện Thác Bà trên Sông Chảy.

       Công tác đê điều, chống bão lụt thời kỳ này thường xuyên được quan tâm. Các địa phương tổ chức diễn tập hộ đê và tu bổ đê điều hàng năm. Trong ba năm (1958 - 1960), khối lượng đắp đê đạt 33,13 triệu mét khối, đá kè 528,6 nghìn mét khối, bê tông 9,78 nghìn mét khối.

 

 

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn khởi công

Công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải năm 1958

 

 

Công trường Đại Thủy nông Bắc Hưng Hải 1958

 

       Dấu ấn đậm nét nhất, ghi nhận sự phát triển của ngành Thủy lợi giai đoạn này là việc khởi công xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải ngày 1 tháng 10 năm 1958 cùng với việc Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 164-CT/TW17 ngày 28 tháng 9 năm 1959, xúc tiến kế hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng, tạo ra ý tưởng về những công trình lớn trong tương lai, mở đường cho sự phát triển của Ngành.

       Đại thủy nông Bắc Hưng Hải nằm trên địa bàn ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương. Khu thủy nông Bắc Hưng Hải tuy là vùng đất màu mỡ nhất của châu thổ sông Hồng, diện tích 167 ngàn hecta, kẹp giữa bốn sông: sông Hồng, sông Luộc, sông Đuống và sông Thái Bình, nhưng cũng là nơi nhân dân cực khổ triền miên vì thiên tai “chiêm khê, mùa thối”. Trong vùng có những địa danh mà điều kiện tự nhiên nổi tiếng khắc nghiệt nhất Bắc Bộ như: “nhất Tứ Kỳ, nhì Gia Lộc”, là nơi đê Văn Giang vỡ 18 năm liền dưới triều Tự Đức, là nơi có những vùng đói khát quanh năm như phủ Khoái Châu mà dân gian và chính sử đều lưu truyền.

       Tháng 6 năm 1956, Bộ Thủy lợi và Kiến trúc, trực tiếp là Nha Thủy lợi, với sự giúp đỡ của đoàn chuyên gia Trung quốc, đã tiến hành lập hồ sơ quy hoạch, thiết kế hệ thống Bắc Hưng Hải. Giải pháp công trình được đề xuất trên cơ sở kế thừa phương án III do người Pháp phác thảo trước đây. Ngày 23 tháng 6 năm 1958, Chính phủ phê duyệt chủ trương và kế hoạch xây dựng công trình với nhiệm vụ tưới, tiêu 156 ngàn hecta. Nội dung của kế hoạch gồm toàn bộ hệ thống, giải pháp các công trình chính, được đầu tư theo thời gian và điều kiện cho phép: i) Xây cống Xuân Quan có âu thuyền 20 tấn, dẫn nước tưới 113.000 hecta. Diện tích còn lại sẽ nghiên cứu lấy từ cống Nghi Xuyên; ii) Xác định cống An Thổ là công trình ngăn triều, tiêu úng; iii) Xây dựng 26 trạm bơm cố định và 26 trạm bơm thuyền; iv) Lợi dụng hệ thống sông nội đồng có sẵn để chuyển nước, gồm các sông Kim Sơn, Lực Điền, Kim Ngưu, Bồ Kiên, Định Đào, Đình Dù, Cửu An, Tứ Kỳ. Đào đắp những kênh mới tại những nơi cần thiết, xây dựng 1,9 nghìn công trình lớn nhỏ, đồng bộ trên toàn hệ thống. Chính phủ quyết định khởi công đợt I vào ngày 1 tháng 10 năm 1958, gồm cống Xuân Quan, âu thuyền và kênh dẫn thượng, hạ lưu. Đồng thời cũng ấn định hoàn thành vào ngày 19 tháng 5 năm 1959.

       Một ngày tháng 9 năm 1958, Bác Hồ đã đến thăm công trường khi đang chuẩn bị khởi công. Bác thăm khu chuyên gia, khu nhà ở, nhà ăn và khu vệ sinh rồi gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ, công nhân. Sau đó, giữa sáng mưa phùn gió rét cắt thịt ngày 25 tháng 12 năm 1958, giữa đêm khuya mưa rét đổ bê tông móng cống Xuân Quan và khi công trình sắp hoàn thành, Bác lại đến thăm, động viên cán bộ và nhân dân. Bác nói chuyện với cán bộ, công nhân và dân công trên công trường: “Ngày trước dưới chế độ thực dân và phong kiến, ba tỉnh Bắc Hưng Hải mười năm chín hạn. Năm nào cũng đói kém, nhân dân cực khổ nghèo nàn. Từ ngày cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, cải cách ruộng đất thành công, đời sống đồng bào ba tỉnh đã được cải thiện ít nhiều. Nhưng mỗi năm mỗi tỉnh vẫn phải tốn từ một triệu rưỡi đến ba triệu ngày công vào việc khơi mương, đào kênh, tát nước chống hạn. Tốn nhiều công sức, nhưng vẫn còn nhiều ruộng thiếu nước cấy và thu hoạch vẫn bấp bênh. Nay Đảng và Chính phủ quyết định cùng nhân dân xây dựng công trình thủy lợi Bắc- Hưng- Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào. Vậy cán bộ và đồng bào phải có quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Công trình Bắc- Hưng- Hải thành công thì mỗi năm đồng bào đỡ tốn mấy triệu công chống hạn, thu hoạch lại tăng thêm. Bây giờ chịu khó phấn đấu trong mấy tháng, sau này sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm([1]).

 

 

 

Hồ Chủ Tịch và Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn thăm công trường Bắc Hưng Hải

 

       Ngày 1 tháng 10 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng Chỉ huy trưởng công trường Hà Kế Tấn đã bổ nhát cuốc khởi công cống Xuân Quan. Sau ba tháng tính từ ngày khởi công, cống Xuân Quan mở nước đưa phù sa sông Hồng vào đồng ruộng Bắc Hưng Hải. Ngày 19 tháng 5 năm 1959, khu đầu mối Bắc Hưng Hải hoàn thành đợt I, đưa nguồn nước ngọt tưới cho 113.000 hecta. Ngoài hai hạng mục chính theo kế hoạch ban đầu, công trường còn làm thêm đập điều tiết Báo Đáp, nâng mức nước kênh phía đồng lên 5 mét về mùa lũ, giảm áp lực lật và trượt, bảo đảm an toàn cho cống,

       Để chuẩn bị phát triển thủy lợi dài hạn, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 104-CT/TW ngày 28 tháng 9 năm 1959 về xúc tiến xây dựng kế hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng, thể hiện một tư duy chiến lược, khoa học về thủy lợi, với ba nội dung quan trọng:

       - Trị thủy và khai thác hệ thống sông Hồng là “một vấn đề rất trọng yếu”, có vị trí then chốt trong việc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Không những diệt trừ tận gốc nạn lụt ở hạ du, mà còn tạo ra những khả năng lớn về vận tải thủy, phát điện và tưới nước, thúc đẩy công việc khai thác các hầm mỏ, đất khoáng, các lâm sản, trồng cây gây rừng, chăn nuôi… ở thượng du, mở ra những triển vọng to lớn cho việc phát triển toàn diện nền kinh tế quốc dân, nhất là trong việc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trị thủy và khai thác tổng hợp là hai mặt của vấn đề, có quan hệ mật thiết với nhau, cần phải quán triệt đầy đủ, trong đó việc phòng lụt, phát điện, vận tải thủy, tưới nước là tầm quan trọng chủ yếu. Riêng đối với hạ du, nhiệm vụ phòng lụt rất quan trọng.

       - Trị thủy và khai thác hệ thống sông Hồng là một yêu cầu cấp bách, nhưng là một vấn đề chính trị, kinh tế, khoa học. Đồng thời là một công tác quan trọng rất to lớn và phức tạp mà khả năng trước mắt của ta thì có hạn; vì vậy, một mặt cần tiến hành khẩn trương, tích cực, nhưng mặt khác thì không thể nóng vội. Căn cứ vào yêu cầu, khả năng phát triển của nền kinh tế nước ta lúc đó, Trung ương Đảng đã đề ra phương hướng và mục tiêu: (i) Hết năm 1960 hoàn thành việc điều tra khảo sát tình hình cơ bản, cần thiết cho việc xây dựng quy hoạch; (ii) Hết năm 1961 xây dựng xong quy hoạch; (iii) Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất xây dựng xong một công trình có tác dụng khống chế và lợi dụng tổng hợp trên sông Lô, đồng thời thiết kế và chuẩn bị thi công một công trình có tác dụng khống chế và lợi dụng tổng hợp trên sông Đà. Ngoài ra, sau khi quy hoạch xong, tùy theo sự cần thiết mà phân công một số ngành hoặc địa phương phụ trách một số công trình có tác dụng hỗ trợ phát triển, cải tiến giao thông thủy, tưới nước…

       - Trị thủy và khai thác hệ thống sông Hồng là một vấn đề to lớn và lâu dài, cần phải quy hoạch toàn bộ và toàn diện, vẫn phải tiến hành qua nhiều đợt, nhiều năm. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch hệ thống sông Hồng với kế hoạch dài hạn chung và kế hoạch dài hạn của các ngành, các địa phương. Cũng cần có sự phối hợp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc xây dựng quy hoạch, cần có sự giúp đỡ của Liên xô và các nước anh em khác. Trong thời gian chuẩn bị và tiến hành công cuộc trị thủy và khai thác sông Hồng, không thể coi nhẹ việc thực hiện các nhiệm vụ và biện pháp trước mắt, theo kế hoạch nhà nước 3 năm và 5 năm đề ra; như vậy, không những cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, mà cũng là tạo cơ sở cần thiết cho việc trị thủy và khai thác hệ thống sông Hồng sau này. Riêng về mặt thủy lợi, cần phải tích cực thực hiện “ba chính”, đảm bảo chống lụt, khắc phục từng bước nạn hạn, úng, mặn, phục vụ thắng lợi cho sản xuất nông nghiệp là khâu chính của nền kinh tế miền Bắc hiện nay.

       Cùng với việc Trung ương Đảng thành lập Ban Trị thủy và khai thác hệ thống sông Hồng, Chính phủ thành lập Ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng, kế hoạch trị thủy sông Hồng đã được triển khai. Cơ quan Văn phòng Ủy ban Sông Hồng trực thuộc Bộ Thủy lợi, tổ chức thực hiện mọi công tác cụ thể. Văn phòng Sông Hồng đã đo đạc, phân tích, xử lý công phu một khối lượng đồ sộ tài liệu về địa chất, địa hình, thủy văn, dân sinh kinh tế hiện tại và dự kiến phát triển dài hạn, thực trạng tình hình các mặt trị thủy và khai thác Sông Hồng, làm căn cứ cho nghiên cứu lập quy hoạch. Về địa hình, đã lập được hệ thống cao trình thống nhất toàn vùng trung du và châu thổ sông Hồng, sau được nối vào cao trình chuẩn của trạm hải văn Hòn Dấu. Đã lập hệ thống tọa độ và cao trình chuyên dùng lưu vực sông Lô, sông Đà, làm cơ sở cho việc đo bản đồ địa hình các đoạn đập dự kiến và vùng lòng hồ Lô Gâm, Hòa Bình, nối với hệ thống tọa độ và cao trình quốc gia.

 

 

Bác Hồ thăm và xem Quy hoạch thủy lợi tỉnh Hưng Yên ngày 11/6/1961 – Nguồn: TTXVN

 

       Quy hoạch đã được tiến hành theo bốn lĩnh vực: Phòng chống lũ lụt; cấp thoát nước; vận tải thủy; phát triển thủy điện và tổng sơ đồ khai thác bậc thang. Quy hoạch phòng chống lũ lụt thời kỳ đầu lấy mục tiêu chống được trận lũ lớn 1945 lịch sử; xác định sáu biện pháp cụ thể về trồng và bảo vệ rừng, tăng cường củng cố đê điều, tăng cường tổ chức hộ đê chống lụt, xây dựng các công trình phân, chậm lũ, chỉnh trị lòng sông thoát lũ, sử dụng các hồ chứa đã và sẽ xây dựng để cắt giảm lũ cho hạ du. Về quy hoạch cấp thoát nước, đã xem xét gắn kết với quy hoạch trị thủy, quy hoạch công trình thượng du; lấy giải quyết nước tưới, tiêu nước làm trọng tâm, ưu tiên giải quyết nước sinh hoạt của nhân dân và chăn nuôi gia súc, tạo nguồn cho khu công nghiệp và đô thị. Quy hoạch cấp thoát nước được xem xét cụ thể ở từng vùng, từng tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Miền Núi ban đầu chỉ mới được xem xét ở các vùng nông nghiệp tập trung. Cấp nước và tháo nước từng thời kỳ của từng vùng cụ thể, đánh giá đúng các khả năng thỏa mãn nước của vùng, tìm các giải pháp cụ thể, thích hợp với từng vùng, với các khu vực khác nhau trong từng vùng của từng thời kỳ, để giải quyết các nhu cầu mới đặt ra. Liệt kê các công trình phải xây dựng, nhất là cho giai đoạn gần.

Quy hoạch bậc thang thượng du trên cơ sở khảo sát thực địa, đáp ứng các nhu cầu về phát triển điện, giao thông thủy, cung cấp nguồn nước cho lưu vực và chống lũ cho hạ du. Giai đoạn trước năm 1965 tập trung nghiên cứu sơ đồ bậc thang Sông Đà gồm: Hòa Bình + Tạ Bú (Sơn La) + Thác Lai + Huội Vai (Nậm Na) + Huội Quang (Nậm Mu) + Tà Pao (Nậm Mức). Lưu vực Sông Lô so sánh Tuyên Quang và Thác Cái (Sông Lô) + Lực Hành (Sông Gâm). Chủ trương thực hiện công trình từ hạ du lên thượng du, lấy Tuyên Quang và Hòa Bình làm trọng điểm nghiên cứu công trình đầu tiên. Về sau đã bổ sung các bậc thang trên sông Gâm và trên các sông nhánh. Sông Đà nghiên cứu thêm phương án Hòa Bình + Tạ Bú (Sơn La cao) + Hát Hin.

       Từ kinh nghiệm quy hoạch Sông Hồng, trong các năm sau đã lần lượt tiến hành quy hoạch các sông, các vùng thuộc khu IV cũ, đồng thời không ngừng bổ sung, nâng cao quy hoạch Sông Hồng.

       Do quan tâm xúc tiến công tác quy hoạch, nên từ năm 1965 trở đi, phương hướng chiến lược phát triển thủy lợi ở Miền Bắc được đặt nền móng sáng tỏ, vững vàng; các kế hoạch 5 năm được xây dựng bài bản, vững chắc, tùy thuộc vào kế hoạch phát triển của đất nước và khả năng đầu tư của Nhà nước cho công tác thủy lợi. Cuối năm 1962, Báo cáo phương hướng quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng được trình Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch. Ngày 2 tháng 1 năm 1963, Bộ Chính trị có Nghị quyết 65-NQ/TW về Định hướng quy hoạch trị thủy và khai thác hệ thống sông Hồng. Nghị quyết đặt ra những yêu cầu, biện pháp về phòng chống lũ lụt, tưới tiêu, chống úng, ngăn mặn, phát triển thủy điện, vận tải thủy, thủy sản, phát triển miền núi; đồng thời đặt ra các nhiệm vụ tiếp theo của công tác quy hoạch phải tiếp tục hoàn thiện.

        Đầu tư phát triển thủy lợi theo quy hoạch lưu vực sông Hồng đã đem lại hiệu quả to lớn cho phát triển toàn diện các ngành kinh tế - xã hội, nhất là vùng trung du và đồng bằng sông Hồng. Sơ đồ khai thác bậc thang dòng chính sông Đà, sông Lô - Gâm đề xuất trong quy hoạch, trên thực tế đã thể hiện tính hợp lý, khoa học, rút ngắn được rất nhiều thời gian, công sức, vốn đầu tư cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư các công trình Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La và các công trình khác sau này.

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi.

 



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN 1996, tr. 223


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article