Sau kháng chiến, khi miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục, phát triển và cải tạo kinh tế, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, thủy lợi trở thành lĩnh vực được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Đây là thời kỳ đặc biệt của ngành Thủy lợi. Cùng với việc thiết lập cơ quan quản lý ngành cấp Trung ương là Nha Thủy lợi, tiếp đó là một Bộ độc lập quản lý thủy lợi, Đảng và Nhà nước đã đặt Thủy lợi vào đúng vai trò vị trí của một ngành kết cấu hạ tầng cơ bản và thiết yếu của xã hội. Năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước, có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc, có đất lại có nước thì dân giầu nước mạnh. Nước cũng có thể làm lợi nhưng cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng, lụt, ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm cho đất với nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội([1]).

 

 

Cống lấy nước đầu kênh chính Bái Thượng

 

Bước vào thời kỳ (1955-1975), do hậu quả chiến tranh nhiều năm, hệ thống đê điều và thủy nông miền Bắc bị tàn phá nghiêm trọng. Các công trình thủy lợi lớn và vừa đều bị phá hủy, đê điều không được củng cố. Từ Quảng Bình trở ra, trước đây có khoảng 230 ngàn hecta ruộng đất được tưới hai vụ, sau chiến tranh trở nên khô hạn, hoang hóa. Diện tích đất canh tác bị bỏ hoang ở Miền Bắc lên tới 140 ngàn hecta. Thiên tai liên tiếp làm mất mùa, gây đói kém kéo dài từ vụ mùa năm 1954 đến giữa năm 1955. Trước yêu cầu rất lớn, mà trước hết là phục vụ sản xuất nông nghiệp, đảm bảo dân sinh, ngành Thủy lợi đã có những bước tiến vượt bậc, giành được những thành tựu nổi bật qua các giai đoạn khôi phục, phát triển và cải tạo kinh tế, thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cũng như trong suốt những năm chống chiến tranh phá hoại của đề quốc Mỹ.

 

 

Sửa chữa đập Đô Lương tháng 9/1957 – Nguồn TTXVN

 

Sau chiến tranh, khôi phục sản xuất nông nghiệp là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, nhằm kịp thời đảm bảo đời sống nhân dân, cung cấp lương thực, thực phẩm cho các thành phố, thị xã vừa được tiếp quản. Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng tháng 9 năm 1954 chỉ rõ công việc trước mắt là ổn định đời sống nhân dân, trong đó, phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp là vấn đề trọng tâm. Lúc này, cải cách ruộng đất đang ở cao trào, nông dân đã có ruộng nhưng úng lụt, hạn hán đang đe dọa sản xuất và đời sống.

 

 

Đập Đô Lương sau khi được sửa chữa năm 1957

 

Để canh tác được, cần phải phục hồi ngay những công trình thủy nông đã bị phá hoại trong thời kỳ kháng chiến. Nhiệm vụ hàng đầu về thủy lợi trong kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế (1955-1957) được Chính phủ xác định: “Vì nhu cầu lương thực cấp thiết nên cần làm trước những công tác dễ làm, mau hưởng, tốn ít lợi nhiều. Vì vậy, công trình đại thủy nông chủ yếu là phục hồi toàn bộ các hệ thống nông giang đã khai thác trước ngày kháng chiến và khuếch trương kênh máng để tăng diện tích, cải tiến cách quản lý nước, giáo dục nhân dân triệt để tiết kiệm nước, để đạt mục đích ít nước mà tưới được nhiều ruộng. Trong khi làm công tác đại thủy nông, phải luôn luôn phát triển mạnh mẽ công tác tiểu thủy nông trong toàn quốc. Đặc biệt chú ý đến Tây Bắc, vùng Nghệ An giáp Lào, tỉnh Quảng Bình, Khu Vĩnh Linh và những vùng mà công tác thủy lợi ngoài tác dụng phát triển sản xuất còn có nhiều ảnh hưởng chính trị. Những nơi có khả năng (cần thiết) có thể xây dựng một số công trình đại thủy nông([2]).

Trong những năm đó điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn nghiêm trọng nhân lực và vật tư, thiết bị. Các công trình được xây dựng thời thuộc Pháp như Bái Thượng, Đô Lương, Thác Huống… hồ sơ kỹ thuật bị thất lạc. Lúc này, Bộ Giao thông công chính đã huy động phần lớn lực lượng đi khôi phục và phát triển thủy lợi, bao gồm cả học sinh của Trường cao đẳng Giao thông công chính. Tháng 10 năm1954, khi Chính phủ trở về Thủ đô thì 10 công trường khôi phục thủy lợi đã được khởi công thực hiện. Khi Nha Thủy lợi được thành lập trong Bộ Giao thông công chính ngày 6 tháng 5 năm 1955, công tác quản lý thống nhất công tác thủy lợi được tăng cường.

Công trình lớn, quan trọng đầu tiên phải sửa chữa là đập Bái Thượng. Trong chiến tranh đập bị phá hỏng hoàn toàn tháng 7 năm 1952. Toàn bộ diện tích 55 ngàn hecta hạ du bị khô hạn, không thể canh tác. Công việc sửa chữa nhiều thách thức, tưởng chừng khó vượt qua. Lúc này đã vào nửa cuối năm 1954, lòng sông sâu, nước chảy mạnh, trang thiết bị để chặn dòng, dẫn dòng, rút nước hố móng đều không có. Chỉ có tre, nứa, đất, đá và sức lao động thủ công của con người. Nhưng chỉ sau bốn tháng sửa chữa, nước sông Chu đã chảy vào hệ thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh CB đã viết bài khen ngợi trên báo Nhân Dân số ra ngày 10 tháng 1 năm 1955: “Hòa bình trở lại, nhân dân ta liền bắt tay vào việc làm lại các đê đập. Đập sông Chu là một trong những công trình lớn ấy. Hơn 270 cán bộ, 100 công nhân lành nghề, 7.000 dân công và ba tiểu đoàn bộ đội địa phương đã đồng tâm hiệp lực hăng hái thi đua, quyết tâm làm lại đập để đồng bào kịp thời tăng gia sản xuất…. Nửa đêm 17 tháng 12 năm  1954, nước bắt đầu chảy vào nông giang trước sự hoan hô rầm trời của ngót một vạn người đã ra sức lao động([3]).

Chỉ trong 6 tháng mùa khô 1954-1955, các công trình đầu mối bị phá hủy trong chiến tranh đã cơ bản được khôi phục. Diện tích tưới của chín hệ thống bị hỏng nặng chỉ còn lại 26.200 hecta, đến vụ chiêm 1955 đã tưới được 171.800 hecta, vụ mùa đã tưới được 202.374 hecta. So sánh với năng lực thiết kế tưới 227.250 hecta, thì việc khôi phục đầu mối và các công trình bị phá hủy trên kênh đã hoàn thành. Toàn miền Bắc năm 1955, diện tích được tưới vụ chiêm là 488 ngàn hecta, vụ mùa là 555 ngàn hecta. Nông nghiệp vì thế đã nhanh chóng khôi phục. Cuối năm 1955, lương thực đã đủ cung cấp cho nhân dân miền Bắc và hàng triệu cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết.

Sau khi được thành lập, Bộ Kiến trúc và Thủy lợi đã tập trung chỉ đạo thực hiện được các nhiệm vụ lớn. Chúng ta tiến hành ngay khảo sát, thiết kế tám hệ thống thủy lợi mới được đề ra trong Kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế và những hệ thống trước kia chính quyền thực dân còn bỏ dở như Nam Bắc Thái Bình, Nam Nghệ An, Phú Xá. Đã khôi phục hai trạm thủy điện Tà Sa và Nà Ngần; xây dựng mới các công trình thủy lợi, trong đó bắt đầu khởi công thực hiện tám công trình mới đã được thiết kế. Đồng thời đã gấp rút đào tạo cán bộ kỹ thuật chuyên ngành thủy lợi để đáp ứng yêu cầu nhân lực. Trong đó, tháng 7 năm 1956 đã tách trường Trung học Kiến trúc và Thủy lợi ra khỏi Trường Giao thông công chính. Các SThủy lợi thuộc liên khu cũng mở lớp đào tạo sơ cấp thủy lợi. Trong thời gian ngắn, đến cuối năm 1958, đã không còn quá thiếu cán bộ kỹ thuật như trước.

 

 

Bác Hồ về thăm cán bộ, nhân dân tại Công trường khôi phục Đập Thác Huống – 1955

(Nguồn: thainguyentv.vn)

 

       Trong 3 năm (1955-1957), ngoài 11 công trường khôi phục thủy lợi lớn, nhiều công trường quy mô nhỏ hơn cũng được mở ra. Ngay đầu năm 1955, chúng ta đã tiến hành khôi phục, thay máy bơm và mở rộng kênh tưới trạm bơm Phú Xá (Sơn Tây), đưa diện tích tưới vụ mùa năm 1955 lên 16 ngàn hecta, tăng hơn sáu ngàn hecta. Đào khai thông cửa cống Liên Mạc và nạo vét kênh trục Sông Nhuệ để tưới 30 ngàn hecta. Hà Tĩnh đã xây lại cống Trung Lương tưới năm ngàn hecta. Tại Nghệ An, khởi công xây dựng hệ thống Nam Nghệ An tưới 30 ngàn hecta. Hải Phòng khởi công hệ thống Thủy Nguyên- Phong Cốc. Hải Dương xây dựng hệ thống Nam Sách- Chí Linh, lấy nước sông Kinh Thầy vào tưới cho hai huyện Nam Sách và Chí Linh. Hệ thống Ngũ Huyện Khê được mở đầu bằng việc xây cống Mai Lâm dưới đê Tả Đuống, tạo nguồn nước tưới cho 20 ngàn hecta của Bắc Ninh. Tại Vĩnh Phúc, khởi công xây dựng hai trạm bơm: Hà Mão (huyện Thanh Ba) có năng lực tưới thiết kế 7,11 nghìn hecta, Sơn Cương (huyện Lâm Thao) năng lực tưới thiết kế 5,4 ngàn hecta. Năm 1957, toàn Miền Bắc vụ chiêm đã tưới được 603,7 ngàn hecta, vụ mùa tưới được 685,5 ngàn hecta.

 

 

Đập Thác Huống sau khi được sửa chữa năm 1955 - Nguồn: thainguyentv.vn

 

Bên cạnh việc khôi phục và xây dựng mới công trình thủy lợi, nhiệm vụ phòng chống lụt bão tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đê điều hệ thống Sông Hồng- Thái Bình lúc đó chống lũ ở mức 12 mét tại Hà Nội 5,60 mét tại Phả Lại còn khá vất vả. Đê Khu IV (cũ) chưa chống đỡ một cách đảm bảo với mức nước lũ năm 1950. Phần lớn đê còn thấp, bé và yếu. Kế hoạch đê điều trong giai đoạn này chủ yếu là củng cố, tăng cường các tuyến đê hiện có, trước hết là các đoạn xung yếu, quan trọng; ưu tiên tôn cao chống tràn chống thẩm lậu, làm kè đá đối với những chỗ xung yếu hay sạt lở.

Năm 1955, năm mở đầu của kế hoạch khôi phục kinh tế sau chiến tranh, cũng là năm Bắc Bộ chịu trận bão lớn nhất trong lịch sử. Ngày 26 tháng 9 năm 1955, bão đổ bộ dữ dội vào ven biển từ Hải Phòng đến Quảng Ninh kèm theo triều cường. Sức gió ở trung tâm bão mạnh cấp 12, giật cấp 13. Đê biển bị hủy diệt, vỡ 212 đoạn, tổng cộng 30,9 ki lô mét. Nước biển tràn qua đê làm hư hỏng 24 ngàn hecta canh tác, cuốn trôi 7.535 căn nhà, làm chết 634 người. Bộ đội đã dũng cảm chống bão cứu được 4.538 người cùng với 55 tàu thuyền và rất nhiều trâu bò, tài sản của nhân dân.

Việc hàn khẩu đê biển, rửa mặn cải tạo đất được thực hiện khẩn cấp, hạn chế được thiệt hại. Sau bão, công tác đắp đê được ưu tiên và có thêm nhiều kinh nghiệm. Kết thúc kế hoạch ba năm (1955-1957), toàn miền Bắc đắp được 37 triệu mét khối đê, thả 638 ngàn mét khối đá kè, củng cố bê tông cống dưới đê trị giá 37 tỷ đồng (tương đương với 100 ngàn tấn gạo lúc đó). Đưa khả năng chống lũ của đê Bắc Bộ và Thanh-Nghệ-Tĩnh lên mức đảm bảo cao hơn. Năm 1955-1956, tuy lũ lên cao nhưng đã không xy ra vỡ đê. Sự kiện vỡ đê Mai Lâm năm 1957 là bài học kinh nghiệm về kỹ thuật và tổ chức, lề lối làm việc chuyên ngành.

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi.

 

 


([1]) Bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc tổng kết 3 năm thủy lợi khôi phục kinh tế ngày 17 tháng 9 năm 1959. Dẫn trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9, tr.506

([2]) Bộ Thủy lợi: 50 năm Thủy lợi- Những chặng đường, NXB Chính trị quốc gia, H.1995, tr.18

([3]) Bác Hồ với Ngành Thủy lợi, NXB Nông nghiệp, TpHCM 2012, tr. 93.


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article