Cùng với bảo vệ đê điều, phòng chống lũ lụt, công tác thủy nông là nhiệm vụ cần kíp để phát triển sản xuất nông nghiệp. Cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 1947, sau khi chuyển lên Việt Bắc, trọng tâm nhiệm vụ của ngành thủy lợi lúc này là tích cực bảo vệ và quản lý các hệ thống nông giang hiện có, mở rộng khai thác, tưới thêm những diện tích chưa được tưới kết hợp với làm thủy lợi nhỏ. Ở miền Nam, công tác thủy lợi còn phải đối mặt với ngăn mặn, giữ ngọt.

       Nhiệm vụ phát triển thủy lợi được triển khai trong hoàn cảnh rất khó khăn, ác liệt của chiến tranh, bị giặc Pháp âm mưu đánh phá để gây khó khăn về sản xuất nông nghiệp, hạn chế nguồn lương thực, thực phẩm cung cấp cho kháng chiến. Nhất là từ sau thất bại trong chiến dịch Thu Đông đánh lên Việt Bắc, địch chuyển sang phá hoại thủy lợi vùng tạm chiếm.

 

 

 

 

Đập Thác Huống hệ thống sông Cầu bị Pháp đánh bom năm 1952

 

       Cuối năm 1947, sau khi nhân dân ta vừa nạo vét, tu bổ hệ thống sông Nhuệ tưới cho nhiều vùng thuộc quyền kiểm soát của kháng chiến, địch cho lấp cửa lấy nước Liên Mạc (Hà Nội), toàn bộ 45 nghìn hecta bị cắt nguồn nước. Từ năm 1949 trở đi, bị thua đau trên chiến trường, quân Pháp càng lộ rõ dã tâm đánh vào thủy lợi. Năm 1949, chúng ném bom phá đê sông Đuống, bắn vào dân công hộ đê ở Vĩnh Phú, tháo dỡ các cửa cống dưới đê gây ngập lụt đồng ruộng. Ở Liên khu V, Pháp đánh mìn phá đập Đồng Cam, thả bom phá cầu máng Kênh Bắc và Kênh Nam, làm cho 19 nghìn hecta không có nước tưới. Năm 1951, sau khi phải rút chạy khỏi Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, địch điên cuồng ném bom vùng tự do và vùng du kích, nhằm mục tiêu phá đê và công trình thủy lợi. Trong năm này, ở Thái Bình chúng lấp cống Trà Linh, khiến một phần ba khu Bắc Thái Bình bị bỏ hoang cả vụ chiêm và vụ mùa; ở Liên khu V, chúng phá đập An Trạch ở Quảng Nam, đập Thanh Đề, Cẩm Thạch, Phước Hòa ở Quảng Ngãi, Bình Định…

       Trong các năm 1952-1954, quân Pháp tiến hành đánh phá thủy lợi gắt gao và có hệ thống hơn trong chiến dịch chiến tranh lúa gạo. Chúng coi “phá hoại mùa màng của Việt Minh là một hành động chiến tranh cần thiết. Trong đó phải phá một cách có hệ thống các đập nước và tất cả phương tiện dùng để tưới ruộng([1]). Thực hiện chiến dịch đó, địch ném bom phá đập Thác Huống ngày 12 tháng 6 năm 1952; phá cống Vạn Già ngày 29 tháng 6 năm 1952; đào phá đê Hữu ngạn sông Kim Đôi ở Bắc Ninh ngày 20 tháng 9 năm 1952. Trong năm đó, chúng còn ném bom phá kè Thác Oánh ở Bắc Giang, gây thiệt hại lớn cho các hệ thống tưới, gây ngập lụt hàng vạn hecta. Ở vùng tạm chiếm địch còn đóng đồn bốt trên đê và nhiều công trình đầu mối thủy lợi, ngăn chặn việc việc tưới tiêu, khiến hàng chục nghìn hecta ở đồng bằng Bắc Bộ bị thiệt hại nặng. Tương tự như vậy, ở Liên khu IV và V địch phá hoại các công trình đập điều tiết Bàn Thạch, Phong Lạc, Bái Thượng trên sông Chu; cống Bến Thủy, Nam Đàn, âu thuyền Rú Cóc, cống Mụ Bà, Đạo Lý, cống Hiệp Hòa, trạm bơm Đô Lương ở Nghệ An; cống Trung Lương ở Hà Tĩnh. Ở Liên khu V, địch ném bom phá cầu máng Đồng Bo, Quế Hàn, Suối Cái và Rù Rì, làm cho 13 nghìn hecta tỉnh Phú Yên bị khô cạn…

 

Đập Thác Huống sau khi được sửa chữa

 

       Đến cuối năm 1953, hầu hết các công trình thủy lợi kiên cố vừa và lớn đều bị phá hủy, không phân biệt chúng nằm trong vùng tự do hay vùng tạm chiếm, gây hậu quả rất nặng nề về hạn hán, lụt lội, ngập mặn, thiệt hại từ 30% đến 90% mùa vụ, người dân mất nhà cửa, hàng trăm người cùng tài sản bị lũ cuốn trôi trong những năm 1952 – 1954.

       Mặc dù bị địch đánh phá và thiên tai đe dọa, ngành thủy lợi cùng toàn dân vẫn ra sức làm thủy lợi, “địch phá, ta sửa”. Trong các năm 1948 – 1949, chúng ta đã đào đắp kéo dài kênh mương, xây thêm cống, mở rộng được diện tích tưới nhiều hơn năm 1947 hàng vạn hecta. Hệ thống sông Chu ở Thanh Hóa tăng thêm 11 nghìn hecta, hệ thống Bắc và Nam ở Nghệ An tăng 10 nghìn hecta. Ở Bắc Bộ, tại những vùng tự do đã nạo vét sông Tào Khê (Bắc Ninh); kéo dài kênh Phú Xuyên, sửa chữa các cống Sài Thị, Long Cầu, Nhật Lệ, Hoàng Xá (Hưng Yên); đắp đập An Thổ, đào sông An Hồ (Hải Phòng)… Theo báo cáo ngày 6 tháng 12 năm 1949 của Bộ Giao thông công chính, thì trước khi bị địch phá hoại, chúng ta đã nâng cao được năng lực tưới của các hệ thống thủy nông đã có, tưới thêm được 32.400 hecta. Trình độ quản lý các hệ thống đó cũng được nâng cao, đi vào nề nếp([2]).

       Ngày 18 tháng 6 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 68/SL ấn định kế hoạch thực hành công tác thủy nông và thể lệ bảo vệ các công trình thủy nông. Trong những năm tiếp theo từ 1949 đến 1951, công tác thủy lợi nhỏ được đẩy mạnh hơn. Ở Liên khu Việt Bắc đã phát triển thêm nhiều mương, phai, guồng cọn, tổng cộng tưới được 8.843 hecta. Tại  Liên khu IV, chúng ta xây dựng được các cống Hạ Sĩ, Mạnh Chư, Năm Cồn và đắp đê vùng biển ở Thanh Hóa; đắp được các đập Hà Chay,  Hành Thiết, Tân Lập, Phú hữu ở Nghệ An; ở Hà Tĩnh đắp các đập Cẩm Xuyên, Mạnh Hòa, xây cống Hà Lâm, Đan Phượng… Đó là những công trình loại vừa, bằng vật liệu địa phương.

 

Đập Bái Thượng sau khi được sửa chữa

 

       Tại các chiến khu ở Bình Trị Thiên ta đã đắp đập khe Sâu, Hói Cầu, đào mương Kinh Môn, Phước Lộc, tuới cho hơn 1.100 hecta. Ở vùng tự do Liên khu V, phong trào làm thủy lợi của nhân dân lên cao, đã đắp đập Tân Long, Hướng Mạo ở Quảng Nam; đào kênh Trà Khúc – Sa Kỳ, An Chi, Phú Nhuận, bàu Súng, Cam Tịnh, Cù Và, Mỹ Hòa ở Quảng Ngãi, tưới tổng cộng được 2.250 hecta. Bình định đắp đập An Hòa, An Lạc, đào mương Bàu Ấm, Mỹ Trung, Trường Châu. Phú Yên tu bổ Đồng Cam…

       Sau khi địch đánh phá ác liệt hầu hết các công trình thủy lợi lớn năm 1952 - 1953, ta đẩy mạnh làm thủy lợi nhỏ, đào mương, đắp bờ giữ nước, làm phai, đập tạm và đào ao giếng chống hạn. Nhiều địa phương đã xây dựng được những công trình vừa và nhỏ rất hiệu quả. Thái Bình đào thêm tám trục kênh tiêu để tạm thay cống Trà Linh. Vùng Kiến An - Vĩnh Bảo làm cống Chu Khê, đắp đập Lỗ Động, chống úng cho hàng nghìn hecta vụ mùa. Quảng Nam đào kênh Tư Nghĩa, Hoài Thành, Bồng Tân, Phước An, Đồng Vang. Phú Yên đắp hồ Phú Long, làm đập Tân Hiệp, Tà Giao, Phú Bang. Đối với những công trình đầu mối lớn bị địch phá, ta dùng tre, gỗ, đá khôi phục tạm. Đập Bái Thượng và Đô Lương bằng cách đó đã được khôi phục và tưới cho 16 nghìn hecta.

       Trong chín năm kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua yêu nước hộ đê, làm thủy lợi đã được ngành thủy lợi cùng toàn dân tích cực tham gia, tạo nên những thành tựu to lớn. Chúng ta đã bảo vệ được đê điều, tôn tạo và khơi mở các công trình thủy nông, thực hiện được sứ mệnh quan trọng của thủy lợi đối với nông nghiệp, nông thôn và nền kinh tế kháng chiến.

 

Nhóm Biên tập theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015:

Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi.



([1]) Mật lệnh số 48/ZN ngày 11 tháng 1 năm 1952 của tướng Vullemey, Bộ chỉ huy viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

([2]) Phan Khánh, Nguyễn Ân Niên, Nguyễn Ty Niên: Lịch sử thủy lợi Việt Nam. Sđd, tr 256 – 258.


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article