Ngay trong năm 1945, mưa rất nhiều. Sông Hồng sau những năm từ 1927 đến 1944 không có vỡ đê, thì mùa mưa năm 1945 lũ lên rất cao. Đến ngày 20 tháng 8 năm 1945 đê Sông Hồng bắt đầu vỡ ở nhiều nơi. Các đê sông Cầu, sông Luộc cũng bị vỡ từng mảng. Các con đê ở Đồng bằng sông Hồng và Trung du Bắc Bộ bị vỡ 52 đoạn, lụt lội xảy ra tràn lan, làm ngập 35 vạn hecta ruộng đất thuộc 9 tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Hơn 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang do lụt và hạn hán (Phan Khánh, Nguyễn Ân Niên, Nguyễn Ty Niên: Lịch sử thủy lợi Việt Nam. NXB Thời đại. H 2014, tr 244-245; Ban Chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Lịch sử Chính phủ Việt Nam, T1, Sđd, tr 48).

Năm 1946, tình hình kinh tế, chính trị càng trở nên gay go, phức tạp. Địch trắng trợn phá hoại thủy nông, đê điều. Tài chính Nhà nước lúc này kiệt quệ. Ở nông thôn nạn đói tuy được khắc phục một phần, nhưng chưa được đẩy lùi vì hạn, úng. Nạn lụt đang ngấp nghé đe dọa gây tiếp một nạn đói xảy ra.

Những năm tiếp theo, chúng ta thường xuyên phải chống chọi với vỡ đê. Năm 1948 vỡ đê ở Nghệ An, gây lụt lớn. Năm 1950 ở Thanh Hóa lũ tràn qua mặt đê 0,7 mét, vụ mùa bị mất tới 50%. Năm đó ở Nghệ An và Hà Tĩnh đê sông Cả, sông La đều bị vỡ, gây mất trắng vụ mùa tới 60% diện tích; ở Bình Trị Thiên có mưa lũ lịch sử, hàng ngàn ngôi nhà bị trôi, hàng trăm người chết đuối, lúa mùa của Quảng Bình bị mất tới 70%, còn Quảng Trị và Thừa Thiên bị mất trắng.

Để kiến thiết kinh tế, mối quan tâm hàng đầu là phải bảo vệ và phát triển sản xuất nông nghiệp, mà công việc ưu tiên trước hết là thủy lợi, công việc khẩn cấp trước mắt là chống lụt. Mặc dù thực hiện khẩu hiệu “Tiêu thổ kháng chiến” theo lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch  Hồ Chí Minh, nhân dân ta tiến hành phá hoại các công trình hạ tầng, “đường xá, cầu cống, xe tầu, lợi cho địch thì ta phá. Tất cả những cái gì giúp cho địch nhìn thấy sáng, nghe thấy xa, nói được xa, cũng phá…” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng 1945 – 1954, tập I, Sđd, tr. 290 – 291), nhưng riêng các công trình thủy lợi và đê điều, kể cả trong vùng tạm bị chiếm, Chính phủ chủ trương huy động nhân dân vừa tu bổ, tiếp tục nâng cấp, mở rộng, vừa bảo vệ, quản lý tốt.

Trong những năm kháng chiến, đắp đê chống lụt trở thành nhiệm vụ thường xuyên hàng năm, đòi hỏi phải huy động lực lượng lớn. “Giặc LỤT là tiên phong của giặc ĐÓI. Nó là đồng minh của giặc NGOẠI XÂM. Nó mong làm cho dân ta đói kém, để giảm bớt sức kháng chiến của chúng ta. Đắp đê giữ đê là để chống giặc lụt và giặc đói, cho nên cũng như một chiến dịch. Vì nếu "Lụt thì lút cả làng", cho nên cần phải động viên tất cả đồng bào ở vùng có đê, hăng hái tham gia chiến dịch đắp đê giữ đê” (Hồ Chí Minh: Ra sức giữ đê phòng lụt, đăng trên báo Nhân dân số 124, từ ngày 16 đến 20 tháng 7 năm 1953. Dẫn trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, tr. 96 - 97, bản số hóa trên Website Đảng Cộng sản Việt Nam).

Để tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Chính phủ đã củng cố bộ phận quản lý ngành thủy lợi trong Bộ Giao thông công chính là Ty Chuyên môn công chính. Bên cạnh cơ quan chuyên môn, để tập trung lực lượng, tăng cường chỉ đạo công tác hộ đê, từ tháng 5 năm 1946, Chính phủ đã thành lập Ủy ban Hộ đê Trung ương và tổ chức này này thường xuyên được kiện toàn trong kháng chiến.

Nguồn lực dành cho đê điều của Chính phủ trong những năm này rất hạn chế, chủ trương của Đảng và Chính phủ là huy động sức dân, phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết toàn dân: “Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ mà là của tất cả mọi quốc dân. Dân chúng có quyền kiểm soát việc làm để đề phòng những việc nhũng lạm có thể xảy tới.

Số thóc góp để đắp đê không phải là một thứ thuế mà chỉ là một thứ lạc quyên thôi, không có gì là cưỡng bách cả. Đê vỡ, ruộng mất, dân nghèo lo đói, điền chủ mất thóc mà thương gia cũng ít phát tài. Cho nên mọi người đều phải sốt sắng giúp dập vào việc đắp đê… Các nhà thân hào phải hăng hái giúp đỡ những đồng bào khác đi đắp đê, phải giúp cho họ ăn, phải góp tiền, thóc nuôi họ…Hồ Chí Minh: Bài nói chuyện với nông dân và điền chủ Hưng Yên ngày 10 tháng 1 năm 1946, đăng trên báo Cứu quốc số 140 ngày 12 tháng 1 năm 1946. Dẫn trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, tr. 260 – 261 bản số hóa trên website Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cùng với chính sách lạc quyên, Đảng và Chính phủ chú trọng phát động thi đua, động viên tinh thần nhân dân. Hàng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều chỉ đạo, nhắc nhở, động viên toàn quân, toàn dân và cán bộ nhân viên ngành canh nông, công chính phải tập trung thực hiện nhiệm vụ đắp đê, giữ đê phòng lụt. Năm 1947, Người kêu gọi: “Các bộ đội, dân quân, tự vệ phải cố gắng giúp đồng bào những công việc đó. Các Uỷ ban kháng chiến, Uỷ ban hành chính, các đoàn thể phải phụ trách tuyên truyền, cổ động, khuyên bảo, nhắc nhủ đồng bào làm những công việc đó.

Các anh em nhân viên Công chánh phải hăng hái chịu khó, thiết thực hợp tác với các cơ quan, các đoàn thể để bày vẽ và kiểm soát những công việc đó. Nơi nào làm những việc đó xong trước hết, chu đáo hơn hết, thì các cơ quan địa phương phải lập tức báo cáo lên, Chính phủ sẽ có khen thưởng.

Chúng ta phải kiên quyết tranh cho được thắng lợi trong việc chống giặc lụt” (Hồ Chí Minh: Toàn tập - NXB Chính trị quốc gia, H. 1995, tr. 5, 160).

Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục kêu gọi, kịp thời động viên quân dân cả nước: Đồng bào hãy xung phong thi đua góp công, góp của, đắp đê, giữ đê. Tôi hứa dành một giải thưởng đặc biệt cho tỉnh nào giỏi nhất” (Hồ Chí Minh: Thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, viết tháng 5 năm 1949. Dẫn trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 1069, bản số hóa).

Địch ngày càng tăng cường đánh phá đê điều và các công trình thủy lợi nhằm phá hoại sản xuất nông nghiệp, gây khó khăn cho kháng chiến. Công tác đê điều càng trở nên cấp bách, đòi hỏi chủ động và cảnh giác cao hơn, cần huy động đông đảo hơn lực lượng kể cá nhân dân và quân đội. Hàng năm, trong các bài viết có tính hiệu triệu bảo vệ đê điều, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biểu dương và kêu gọi nhân dân, cán bộ, chính quyền, các cơ quan chuyên môn, đoàn thể ở các địa phương tích cực chuẩn bị kịp thời, đầy đủ, triệt để thi hành chương trình hộ đê của Chính phủ:

“Mùa lụt sắp đến, giữa lúc đồng bào đang tích cực chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công. Giữ vững đê điều để chống giặc lụt cũng là một việc chuẩn bị… Chính quyền, chuyên môn, bộ đội, dân quân sẽ phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể nhân dân để thực hiện cho bằng được kế hoạch của Chính phủ” (Hồ Chí Minh: Thư gửi đồng báo các tỉnh có đê, đăng trên báo Sự thật số 135, ngày 15 tháng 6 năm 1950. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 62, bản số hóa trên Website Đảng Cộng sản Việt Nam).

“Trong mỗi địa phương, đồng bào sẽ đặt kế hoạch giữ đê cho thật sát với tình hình quân sự và kinh tế, sẽ cố gắng thực hành kế hoạch cho kỳ được, để giữ gìn kho người và kho thóc của ta” (Hồ Chí Minh: Thư gửi đồng báo các tỉnh có đê, đăng trên báo Cứu quốc số 1818, ngày 15 tháng 5 năm 1951. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 199, bản số hóa trên website Đảng Cộng sản Việt Nam).

“Trong việc đắp đê giữ đê, kế hoạch phải rất tỉ mỉ, phân công phải rất rành mạch, chuẩn bị phải rất chu đáo, lãnh đạo phải rất thống nhất. Cán bộ quân, dân, chính, đảng, những vùng ấy phải xem việc đắp đê giữ đê là việc chính. Phối hợp phải thật chặt chẽ. Chỉ đạo phải thật thiết thực. Tổ chức phải thật đầy đủ. Tuyệt đối chống cách khoán trắng, chống quan liêu, mệnh lệnh...” (Hồ Chí Minh: Ra sức giữ đê phòng lụt, đăng trên báo Nhân dân số 124, từ ngày 16 đên 20 tháng 7 năm 1953 - Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, tr. 96-97, bản số hóa trên website Đảng Cộng sản Việt Nam).

Bằng vận động triệt để sức dân, dựa vào dân, công tác đê điều lần lượt vượt qua mọi thử thách. Ngay trong những ngày đầu tiên từ khi nước nhà được độc lập đến tháng 10 năm 1945, hầu hết các đoạn đê vỡ đã được tu bổ, những đoạn đê xung yếu đã được bồi đắp. Từ mùa thu năm 1945 đến mùa xuân năm 1946, nhân dân ta đã đắp hàn xong các đoạn đê bị hư hỏng với trên ba triệu mét khối đất (Bộ Thủy lợi: 50 năm thủy lợi – những chặng đường. NXB Chính trị quốc gia. H. 1995, tr.130). Trong những tháng mùa khô cuối năm 1946, lực lượng công nhân lao động thủy lợi cùng hàng triệu người dân ở Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã đắp được 2,1 triệu mét khối đất để củng cố đê, hoàn thành sửa chữa đập Đáy trở lại nguyên trạng. Sau đợt gia cố mùa khô 1945 - 1946, đê ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ tương đối vững chắc. Ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh năm 1947 đã đắp được 405 nghìn mét khối củng cố đê. Mặc dù điều kiện còn khó khăn, chưa thể nâng cao quy mô của đê, nhưng nhờ phong trào thi đua hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ và nhân dân ta đã ra sức hộ đê phòng lụt. Trong kháng chiến, đê ở Bắc Bộ không bị vỡ; đê Thanh - Nghệ - Tĩnh sau những đợt vỡ năm 1948 - 1950 đã được hàn khẩu kịp thời, nên đã hạn chế thiệt hại, sớm khắc phục được hậu quả (Phan Khánh, Nguyễn Ân Niên, Nguyễn Ty Niên: Lịch sử thủy lợi Việt Nam. Sđd, tr 256, 259).

 

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TƯ LIỆU

 

 

Bác Hồ và Đoàn công tác Chính phủ thăm nhân dân tỉnh Hưng Yên đắp đê ngày 10/01/1946

 

 

 

 

 

 

Bác Hồ và Đoàn công tác Chính phủ thăm nhân dân Hưng Nhân, Thái Bình đắp đê

ngày 28/4/1946 - Nguồn: TTXVN


 

 

Bác Hồ về thăm và kiểm tra công tác đê điều ở Thái Bình, tháng 01/1946

 

 

Nhóm Biên tập (theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015):

1 - Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

2 - Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

3 - Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi



Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article