Nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam từ bao đời nay luôn coi thủy lợi là biện pháp kỹ thuật hàng đầu trong những biện pháp nền tảng của canh tác: “Nước - Phân - Cần - Giống” và sức nước cũng là mối lo hàng đầu trong cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai: “Thủy - Hỏa - Đạo - Tặc”. Trải qua các triều đại phong kiến, hệ thống đê điều và thủy lợi nước ta được mọi người dân chung sức đồng lòng, bền bỉ xây dựng và cuộc đấu tranh với thiên tai, chống hạn hán, lũ lụt đã trở thành truyền thống anh dũng, kiên cường của dân tộc. Hệ thống đê điều và thủy lợi đã giúp nhân dân ta mở mang diện tích đất canh tác, khai hoang nhiều vùng rộng lớn, phát triển những quy trình sản xuất thâm canh, bảo vệ mùa màng, bảo vệ cuộc sống nông dân…

  <v:path o:connecttype="rect" gradientshapeok="t" o:extrusionok="f"> <v:imagedata o:title="Ban do De dieu bac ky thoi Phap thuoc" src="file:///C:\Users\Admin\AppData\Local\Temp\msohtmlclip1\01\clip_image001.jpg">

 

Bản đồ đê điều Bắc kỳ thời Pháp thuộc - Nguồn: Archives.gov.vn

 

Thời thuộc Pháp, các công trình thủy lợi và hệ thống đê điều sớm được quan tâm để phục vụ trực tiếp cho chiến tranh xâm lược và mở mang khai thác nông nghiệp thuộc địa, trước hết là ở Nam Bộ.

Ngay từ năm 1866, khi chưa chiếm xong ba tỉnh miền Tây Nam Bộ, Pháp đã cho đào kênh làm hệ thống giao thông hành quân bình định Nam Bộ bằng đường thủy, đồng thời phục vụ âm mưu khai khẩn và chiếm hữu đất đai sản xuất nông nghiệp sau này. Hải quân Pháp huy động hai tàu cuốc đi theo và hàng vạn dân phu khổ sai để nạo vét và mở rộng kênh Bến Lức và Bảo Định (Phan Khánh: Sơ thảo lịch sử Thủy lợi Việt Nam, Tập I - NXB Khoa học xã hội, H, 1981, Tr. 178).

Năm 1867, sau khi chiếm xong Nam Bộ, Pháp thành lập ngay một Ủy ban nằm trong bộ tham mưu soái phủ Sài Gòn, chuyên nghiên cứu xác định những kênh rạch cần ưu tiên nạo vét, mở rộng. Việc tăng cường đào vét kênh mương ở miền Tây Nam Bộ đã tạo tiền đề thuận lợi cho sự hình thành các đồn điền nông nghiệp của Pháp ở phía Nam.

  <v:imagedata o:title="III - 1 - 2" src="file:///C:\Users\Admin\AppData\Local\Temp\msohtmlclip1\01\clip_image002.jpg">

 

Vỡ đê Phú Thọ - Nguồn: Archives.gov.vn

 

Năm 1875, sau khi triều đình Huế chính thức nhượng toàn Nam Bộ cho Pháp (Bằng Hòa ước Giáp Tuất năm 1874 mà triều đình Huế đã ký với đô đốc Dupré - đại diện Pháp), Pháp đã thành lập Ủy ban thường trực lo hoàn chỉnh hệ thống đường thủy từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây. Từ năm 1884 trở đi, sau khi bình định xong toàn bộ Việt Nam, Pháp mới yên tâm bỏ vốn khai thác ở Nam Bộ, sau đó ra miền Trung và miền Bắc.

Trong vòng 10 năm, từ năm 1880 đến 1890, Pháp đã đào được 2,1 triệu mét khối đất kênh rạch, tăng được 169 nghìn hecta đất canh tác so với thời Nguyễn trước đó. Trong 10 năm sau đó, từ 1894 đến 1904, Pháp đưa tàu cuốc vào đào kênh để đẩy nhanh tốc độ. Trung bình hàng năm từ 1894 đến 1897 đào được 120 nghìn mét khối; từ năm 1897 đến 1903, mỗi năm đào được 877 nghìn mét khối; từ 1903 đến 1904 đào được 3,495 triệu mét khối (Đây chủ yếu là khối lượng đất đào của hai con kênh lớnTrà Ót và Saintnoy. Theo Phan Khánh: Nam Bộ 300 năm làm thủy lợi. Sđd, tr. 107, 108). Các năm sau đó, kỹ thuật đào kênh ngày càng hiện đại. Nếu trong 10 năm đầu (1890 - 1900), bình quân mỗi năm đào được 824 nghìn mét khối, thì trong vòng 10 năm từ  1920 đến 1930, bình quân mỗi năm đào được 7,233 triệu mét khối. Chưa kể hàng triệu mét khối thực dân Pháp bắt dân ta đào bằng tay (Phan Khánh: Nam Bộ 300 năm làm thủy lợi. Sđd, tr. 117).

Sau năm 1930, mục tiêu của việc đào kênh mương ở Nam Bộ chủ yếu là làm thủy lợi, phục vụ lợi ích kinh tế là chính. Thực tế cho thấy Pháp chỉ tiếp tục đào vét kênh mương thủy lợi cho đến năm 1940 và cũng chỉ coi thủy lợi là giải pháp để khai phá đất đai là chính, giải quyết một phần tiêu úng, chưa thực sự giải quyết vấn đề tưới và xổ phèn, vì đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ và đầu tư vốn cao.

Ở Bắc Bộ và Trung Bộ, việc xây dựng, khai thác thủy lợi của Pháp bắt đầu muộn hơn, sau khi đã hoàn thành việc mở rộng xâm lược ra Bắc Kỳ và Trung Kỳ (kéo dài từ năm 1873 đến năm 1884) và bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914). Thủy lợi ở đây được đầu tư như một biện pháp để tăng lợi nhuận của các đồn điền nông nghiệp của tư bản Pháp. Kép là hệ thống thủy nông đầu tiên được xây dựng ở phía Bắc, khởi công năm 1902, mở rộng thêm năm 1911, tưới nước cho 7.500 hecta. Từ khi có hệ thống Kép, diện tích gieo trồng tăng lên 4.163 hecta lúa (1913).

Để phục vụ cho khu vực tập trung nhiều đồn điền nằm giữa ba tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phú, Pháp nghiên cứu xây dựng các hệ thống thủy nông Liễn Sơn, Sông Cầu. Đồng thời, hệ thống Sông Cầu còn là đường vận tải thủy kinh tế nhất để đưa lâm, khoáng sản khai thác từ Thái Nguyên về Hải Phòng.

Việc xây dựng thủy lợi ở Trung Bộ ít được quan tâm, do Pháp chưa đầu tư thành lập các đồn điền nông nghiệp ở đây. Hệ thống thủy nông đầu tiên được xây dựng là Sông Chu với công trình đầu mối đập Bái Thượng, có nhiệm vụ dâng mực nước Sông Chu mùa kiệt để dẫn vào khu tưới, được khởi công năm 1920, hoàn thành năm 1928.

Sau Bái Thượng, Pháp xây dựng hệ thống thủy nông Tuy Hòa ở Phú Yên. Công trình đầu mối là đập chính Đồng Cam, cùng với hệ thống kênh dẫn nước ở hai bờ, tưới cho 19.000 hecta, được khởi công năm 1925 và hoàn thành năm 1929, khai thác từ sau năm 1933. Ngoài ra tại vùng Phan Rang, Pháp còn cho cải tạo lại hệ thống Nha Trinh, một công trình cổ bằng đá xếp có từ thời phong kiến, trước chỉ tưới cho vài ba ngàn hecta. Sau khi cải tạo có thể tưới cho 6.600 hecta.

 

Đến năm 1930, ở Bắc và Trung Bộ, Pháp mới chỉ đầu tư xây dựng và cải tạo 5 công trình thủy nông nói trên, tổng diện tích tưới thiết kế là 118.500 hecta, còn nhỏ so với nhu cầu làm thủy lợi cho diện tích canh tác ở Bắc Bộ là 2,593 triệu hecta. Trong 15 năm tiếp theo, từ 1930 đến 1945, nhịp độ phát triển thủy nông ở Bắc và Trung Bộ được tăng lên, với một số hệ thống quy mô khá lớn. Hệ thống Bắc Nghệ An được khởi công cuối năm 1934, tưới cho 35.660 hecta. Hệ thống Nam Nghệ An được xây dựng từ 1936 đến 1942, tưới cho 17.300 hecta. Ngoài ra còn những hệ thống thủy nông khác cũng được nghiên cứu, thiết kế, thi công dở dang, như Kẻ Gỗ ở Hà Tĩnh, An Trạch ở Quảng Nam, Liệt Sơn ở Quảng Ngãi… Cho đến năm 1945, khi kết thúc chế độ thực dân Pháp, kết quả xây dựng thủy nông ở Bắc Bộ có công suất thiết kế tưới tiêu, hoặc ngăn mặn cho 298.000 hecta, trên tổng số 1,44 triệu hecta diện tích canh tác (chiếm khoảng 20,7%; giải quyết từng mặt). Miền Núi Bắc Bộ hoàn toàn bỏ trắng về thủy nông. Ở Trung Bộ, năng lực thiết kế các công trình tưới là 124.000 hecta trên diện tích canh tác 1,153 triệu hecta (chiếm 10,8%).

 

<v:imagedata o:title="Vo de song Thuong - doan qua Vu Gian" src="file:///C:\Users\Admin\AppData\Local\Temp\msohtmlclip1\01\clip_image003.jpg">

 

Vỡ đê sông Thương, đoạn qua Vũ Giản - Nguồn: Archives.gov.vn

 

Mặc dù đê điều hàng năm được gia cố, thủy lợi được quan tâm đầu tư xây dựng, mở mang, nhưng nhìn chung, nông nghiệp nước ta trong những năm thuộc Pháp vẫn phải chịu những rủi ro vì thiên tai, hạn hán xảy ra nhiều nơi, lụt lớn, thường xuyên vỡ đê ở hầu hết các con sông.

Tuy còn hạn chế cả về vốn đầu tư  và nghiên cứu quy hoạch, các hệ thống thủy lợi thời kỳ Pháp thuộc tuy xây dựng chưa được nhiều, chưa khai thác hết tiềm năng đất đai nông nghiệp, nhưng đã tạo những điều kiện thuận lợi để khai thác, đưa vào canh tác các vùng đất rộng lớn và quy tụ dân cư ở Nam Bộ, nâng cao hiệu quả sử dụng một phần diện tích nông nghiệp ở Bắc và Trung Bộ, thành lập được nhiều đồn điền nông nghiệp./.

 

Nhóm Biên tập (theo Quyết định 1033/QĐ-BNN-VP ngày 31/3/2015):

1 - Hà Thanh Liêm, nguyên Chánh Văn phòng Tổng cục Thủy lợi;

2 - Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thủy lợi;

3 - Nguyễn Hữu Phú, Phó CVP Tổng cục Thủy lợi


Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article